Từ mốc son đổi mới đến kỷ nguyên vươn mình: sứ mệnh lịch sử và tầm vóc mới của Đảng

Cập nhật: 13/08/2026 23:09

ThS. Nguyễn Thị Nga – Khoa Lý luận cơ sở

Hành trình 40 năm Đổi mới – từ bước ngoặt tư duy năm 1986 đến sự "nhảy vọt" chiến lược tiến vào "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Việt Nam đã kiến tạo nên những kỳ tích ngoạn mục. Thực tiễn sinh động ấy đã tôn vinh tầm vóc lãnh đạo bản lĩnh, tư duy quản trị hiện đại, tinh gọn và khẳng định sứ mệnh lịch sử không thể thay thế của Đảng Cộng sản Việt Nam trên con đường đưa dân tộc vững bước tới tương lai giàu mạnh, văn minh.

1. Mốc son Đổi mới (1986) – bước ngoặt tư duy và bản lĩnh chính trị của Đảng

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”[1], Đảng đã dũng cảm thừa nhận những khuyết điểm chủ quan, duy ý chí để mở ra một cuộc đại tổng tuyển cử về mặt tư duy, xoay chuyển cục diện đất nước. Sự bứt phá của Đại hội VI không đơn thuần là một quyết sách kinh tế tình thế, mà là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện về mặt lý luận của Đảng. Đảng đã chủ động rũ bỏ tư duy xơ cứng để chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang “xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế”[2]. Đây là sự vận dụng biện chứng, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào đặc thù thực tiễn của Việt Nam, bác bỏ hoàn toàn tư tưởng giáo điều, rập khuôn.

Bản lĩnh của Đảng thể hiện ở chỗ: đổi mới nhưng không đổi màu, thay đổi phương thức quản lý kinh tế và lãnh đạo xã hội để giải phóng sức sản xuất nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xét dưới góc độ quy luật phát triển, mốc son Đổi mới năm 1986 mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, để lại bài học về năng lực "tự soi, tự sửa" và tự đổi mới của một Đảng mác-xít chân chính. Bốn mươi năm nhìn lại, từ đỉnh cao của năm 2026, chúng ta càng thấy rõ mốc son năm 1986 chính là sự khởi đầu cho một hành trình tích lũy vĩ đại về cả định lượng lẫn định tính.

2. 40 năm Đổi mới - tiến trình tích lũy chiến lược và cơ đồ “chưa từng có”

Tiến trình bốn mươi năm Đổi mới trước hết được định hình bằng những bước tiến dài, vững chắc trong tư duy và nhận thức lý luận của Đảng. Thành tựu lý luận lớn nhất mang tính cốt lõi là nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lại phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta như thế nào là những câu hỏi lớn mà thực tiễn luôn đặt ra. Những thành tựu lý luận của Đảng sau 40 năm đổi mới đã góp phần làm rõ những vấn đề này. Trước hết, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự kế tục trung thành với con đường, mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Đó là "vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, đao động”[3]. Đảng đã chuyển từ những quan niệm mang tính trừu tượng, mô hình hóa sang những mục tiêu cụ thể, nhân văn và mang tầm chiến lược. Đặc biệt, lần đầu tiên, lý luận của Đảng xác định rõ lộ trình phát triển đất nước qua các cột mốc lịch sử cụ thể: đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng): Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045 (100 năm thành lập nước): Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc định lượng mục tiêu cho thấy sự tự tin về bản lĩnh chính trị và năng lực quản trị quốc gia của Đảng.

 Đảng đã xác định rõ 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội, 10 mối quan hệ lớn phản ánh quy luật của đổi mới và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng. Động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam cũng ngày càng toàn diện khi đề cao vai trò của văn hóa, con người như một sức mạnh nội sinh tối thượng.

Từ nền tảng lý luận đúng đắn, thực tiễn Việt Nam sau bốn mươi năm đã kiến tạo nên những kỳ tích bứt phá ngoạn mục. Quy mô nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc. Từ một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn với GDP chỉ khoảng 26,3 tỉ USD đầu thập niên 1980, đến năm 2025 đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới [4]. Tăng trưởng GDP bình quân đạt những con số ấn tượng. Ở nhiều thời kỳ, GDP tăng trưởng bình quân 7%/năm. Đáng chú ý, năm 2020, dưới tác động của COVID-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Song Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì tăng trưởng dương (2,91%). Đến năm 2025 đạt tốc độ tăng trưởng 8,02%, tốp tăng trưởng cao nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng nhanh, từ dưới 100USD (1986) lên 3.586 USD vào năm 2020 và năm 2025 đạt trên 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao[5]. Sự tích lũy chiến lược về mặt kinh tế còn ghi dấu ấn đậm nét trên bản đồ thương mại toàn cầu. Năm 2025, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 930 tỷ USD, Việt Nam thuộc nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới, khẳng định vị thế một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ một nước thiếu ăn, Việt Nam tự lực vươn lên đảm nhận vai trò "bếp ăn của thế giới", thuộc top 5 nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo, cà phê, hạt điều, dệt may và da giày. Song song với sự gia tăng về "lượng", chất lượng tăng trưởng kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ sang chiều sâu dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.

Kinh tế đối ngoại và hội nhập cũng đạt được những thành tựu toàn diện chưa từng có. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 38 nước, bao gồm tất cả các nước lớn và các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc[6]. Nước ta có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút một lượng lớn vốn FDI[7].

Một trong những giá trị cốt lõi, khẳng định tính ưu việt của công cuộc Đổi mới chính là việc tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025, là hình mẫu thành công về giảm nghèo theo đánh giá của Liên Hợp quốc. Đồng thời, nước ta đã chi tới 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội trong giai đoạn 2021 - 2025 và đặc biệt đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước, về đích sớm 5 năm 4 tháng so với kế hoạch đề ra tại Nghị quyết số 42-NQ/TW.

Chất lượng sống, sức khỏe và học vấn của người dân được nâng cao rõ rệt. Hệ thống y tế củng cố vững chắc giúp tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2025 đạt trên 95%, nâng tuổi thọ trung bình của người dân từ 62 tuổi (năm 1990) lên hơn 74 tuổi vào năm 2025. Lĩnh vực giáo dục nhận được sự ưu tiên tối đa khi hoàn thành các cấp độ phổ cập và thực hiện chính sách miễn toàn bộ học phí cho hệ thống giáo dục phổ thông vào năm 2025. Chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, đạt mức cao so với các nước cùng trình độ phát triển. Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam tăng 48 bậc, từ vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên vị trí 46 năm 2025[8].

Đặc biệt, Đảng, Nhà nước ta luôn có đường lối, chủ trương đúng đắn nhằm bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet của mỗi người dân. Theo thống kê cho thấy, tính đến năm 2025, Việt Nam có hơn Việt Nam có 79,8 triệu người sử dụng internet, với tỷ lệ 78,8% dân số có kết nối trực tuyến. Số lượng tài khoản mạng xã hội tại Việt Nam đạt 76,2 triệu vào tháng 1/2025, tương đương 75,2% tổng dân số[9]. Người dân có điều kiện bày tỏ ý kiến và tiếp cận thông tin một cách rộng rãi, khách quan. Bên cạnh đó, tự do tín ngưỡng của các tầng lớp Nhân dân cũng được bảo đảm với sự tồn tại và phát triển của hàng chục tôn giáo lớn nhỏ, với hơn 28 triệu tín đồ đang sống tốt đời đẹp đạo.

Những thành tựu này là hiệu quả của công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội. Với tiềm lực hiện tại, Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, uy tín chính trị được củng cố, phát triển. Những thành tựu đó chính là minh chứng rõ nhất cho bản chất cách mạng trong sáng của Đảng ta, như Tổng Bí thư Tô Lâm từng khẳng định: “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Nhân dân; Nhân dân là trung tâm, chủ thể trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng; mọi sự phấn đấu của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị chỉ có ý nghĩa khi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”[10].

3. Bình minh Kỷ nguyên vươn mình (2026) - sứ mệnh lịch sử và tầm vóc mới của Đảng

Năm 2026 mở đầu bằng một sự kiện lịch sử trọng đại: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là một kỳ đại hội chuyển giao nhiệm kỳ thông thường mà chính là cột mốc khởi đầu - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Bước vào kỷ nguyên mới, dân tộc Việt Nam phải đối mặt với những yêu cầu khách quan của lịch sử, đòi hỏi một sự chuyển mình mạnh mẽ cả về tư duy và hành động. Trong gần một thế kỷ qua, Đảng đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh đưa dân tộc Việt Nam từ nô lệ trở thành người làm chủ vận mệnh của mình, xây dựng và phát triển đất nước trong chặng đường đầu của chủ nghĩa xã hội. Bước vào kỷ nguyên vươn mình, sứ mệnh của Đảng không thay đổi về bản chất, nhưng được bổ sung những nội dung và yêu cầu mới, nặng nề hơn, vinh quang hơn. Sứ mệnh lịch sử của Đảng trong kỷ nguyên này được định vị bằng hai từ - ngắn gọn nhưng cân não: BỨT PHÁ. Yêu cầu bao trùm và cấp thiết nhất là phải thực hiện thắng lợi một quá trình "đột phá kép". Một mặt, phải đi tắt, đón đầu, đột phá đi thẳng vào hiện đại, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo mà Việt Nam có lợi thế, đồng thời hiện đại hóa nền quản trị quốc gia. Mặt khác, phải quyết liệt đột phá trong việc giải quyết triệt để những "điểm nghẽn", những yếu kém cố hữu về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Hai quá trình này phải diễn ra song song, đồng bộ.

Để gánh vác sứ mệnh lịch sử đó, tầm vóc lãnh đạo của Đảng đã được nâng tầm lên một vị thế mới, chuyển đổi sâu sắc tư duy quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, tinh gọn và hiệu quả. Tầm vóc mới của Đảng được định hình bằng việc xác lập hệ triết lý phát triển dựa trên các trụ cột sức mạnh nội sinh vững chắc: Tự chủ - tự tin - tự lực - tự cường và tự hào dân tộc. Sức mạnh lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới được minh chứng bằng tinh thần phân cấp, phân quyền triệt để, khơi dậy năng lực sáng tạo của các địa phương với phương châm cốt lõi: địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm. Chính sự đổi mới quyết liệt này đã tạo nên một thể chế quản trị ưu việt - nơi kỷ cương xã hội được bảo đảm, pháp chế được tăng cường và năng lực hành động quốc gia được giải phóng toàn diện.

Trên tất cả, trọng trách vĩ đại của Đảng được soi sáng bởi một triết lý bất biến, xuyên suốt chiều dài lịch sử cách mạng: lấy Nhân dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực cao nhất của mọi chính sách phát triển. Mối quan hệ máu thịt, đồng lòng giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn sức mạnh vô tận, là bệ đỡ vững chắc nhất để đất nước tự tin vượt qua mọi khó khăn. Đứng ở cột mốc năm 2026, nhìn về tương lai, sự hòa quyện giữa ý Đảng và lòng Dân chính là lời cam kết lịch sử, bảo đảm cho sự bứt phá của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Như vậy, hành trình từ mốc son Đổi mới đến bình minh của Kỷ nguyên vươn mình - chặng đường bốn mươi năm ấy không đơn thuần là một thước đo thời gian mà là một bản anh hùng ca vĩ đại về trí tuệ, bản lĩnh và ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc Việt Nam. Những thành tựu về mọi mặt từ sự bứt phá ngoạn mục của nền kinh tế, vị thế đối ngoại đỉnh cao cho đến những kỳ tích thấm đẫm tính nhân văn về an sinh xã hội chính là lời hồi đáp đanh thép nhất đập tan mọi sự xuyên tạc, hoài nghi. Khát vọng độc lập, tự cường và thịnh vượng là lẽ sống, là sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam. Với ngọn đuốc Đổi mới trong tay, với niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đất nước ta nhất định sẽ bứt phá mạnh mẽ, viết tiếp những trang sử vàng chói lọi, hiên ngang vươn mình, vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa văn minh và giàu mạnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khoá VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, HN

3. Nguyễn Phú Trọng (2024): Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 

 

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khoá VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, Phần I, tr.10

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khoá VI, VII, VIII, IX, X), đd, tr.39-40

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, HN-2026, Tập 2, tr.27

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đd, Tập II, tr.114

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đd, Tập II, tr.115

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đd, Tập II, tr.143

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đd, Tập II, tr.147

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đd, Tập II, tr.114

[9] Theo Báo cáo Digital Insight 2025 Việt Nam

[10] Trích bài phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X

Các tin đã đăng

Lịch công tác
Lịch giảng dạy
Lượt truy cập:
Trực tuyến: ...