Lê Thị Thanh Nhàn
Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chuyển đổi số không chỉ là sự thay đổi về công cụ, phương tiện kỹ thuật mà quan trọng hơn là quá trình thay đổi tư duy, phương thức tổ chức hoạt động, phương pháp quản lý và cách thức tạo lập, chia sẻ và khai thác tri thức.
Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chuyển đổi số tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức dạy và học, quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường học tập hiện đại. Đặc biệt, đối với hệ thống các trường chính trị - nơi thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị - ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới.
Quán triệt chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng đã từng bước triển khai các nhiệm vụ nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trong quá trình đó, Khoa Nhà nước và pháp luật xác định chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là cơ hội để đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nâng cao chất lượng hoạt động của Khoa.
1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động chuyên môn của Khoa Nhà nước và pháp luật
Khoa Nhà nước và pháp luật là đơn vị chuyên môn thuộc Trường Chính trị Tô Hiệu, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các nội dung thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị, các chương trình bồi dưỡng cán bộ, đồng thời tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật. Do đặc thù nội dung giảng dạy liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, quản lý nhà nước và quản trị xã hội, đội ngũ giảng viên của Khoa thường xuyên phải cập nhật các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề mới trong thực tiễn quản lý. Trong điều kiện đó, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trở thành công cụ quan trọng hỗ trợ giảng viên nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ.
Trước hết, chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả khai thác, cập nhật và xử lý thông tin. Việc sử dụng các cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử, các nguồn tài liệu trực tuyến giúp giảng viên nhanh chóng tiếp cận các văn bản mới, các vấn đề thực tiễn, từ đó làm phong phú và nâng cao tính thời sự của bài giảng.
Thứ hai, chuyển đổi số góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm. Công nghệ tạo điều kiện để giảng viên đa dạng hóa phương pháp truyền đạt, kết hợp giữa giảng dạy trực tiếp với khai thác học liệu số, tăng cường tương tác, phát huy tính chủ động, tích cực của học viên.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Đối với lĩnh vực nhà nước và pháp luật, việc khai thác dữ liệu số, các nguồn tài liệu khoa học trực tuyến giúp giảng viên nâng cao khả năng nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng kết thực tiễn.
Thứ tư, chuyển đổi số góp phần đổi mới phương thức quản lý, điều hành, xây dựng môi trường làm việc khoa học, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hoạt động của các trường chính trị.
2. Cán bộ, giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật với việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động chuyên môn tại Khoa
2.1. Những kết quả đạt được
Trong quá trình triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số của Trường Chính trị Tô Hiệu, Khoa Nhà nước và pháp luật xác định rõ rằng chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của khoa học, công nghệ mà còn là động lực quan trọng để đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, đội ngũ cán bộ, giảng viên của Khoa đã từng bước tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý, điều hành công việc.
Trước hết thể hiện ở sự chuyển biến trong nhận thức của đội ngũ giảng viên. Từ quan niệm công nghệ thông tin chỉ là công cụ hỗ trợ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, giảng viên trong Khoa từng bước nhận thức đầy đủ hơn rằng chuyển đổi số là quá trình đổi mới phương thức tư duy, phương thức tổ chức hoạt động chuyên môn, là yêu cầu quan trọng đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại Khoa đã được triển khai trên nhiều phương diện cụ thể:
Một là, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng ứng dụng công nghệ và số hóa học liệu.
Hoạt động giảng dạy của Khoa từng bước được đổi mới theo hướng khai thác hiệu quả các nền tảng công nghệ, tăng tính trực quan, tương tác và khả năng tiếp cận tri thức của người học. 100% giảng viên trong Khoa sử dụng các công cụ cơ bản như Microsoft Word, Microsoft PowerPoint trong xây dựng giáo án, thiết kế bài giảng; đồng thời từng bước khai thác các nền tảng hỗ trợ giảng dạy như Google Meet, Google Classroom, Microsoft Teams, Quizizz nhằm tăng cường trao đổi, tương tác trong quá trình giảng dạy.
Đặc biệt, một số giảng viên đã bước đầu nghiên cứu, ứng dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) như ChatGPT, Gemini, Canva, NotebookLM trong hỗ trợ xây dựng nội dung bài giảng, thiết kế học liệu, hệ thống hóa tài liệu tham khảo. Việc ứng dụng các công cụ mới không thay thế vai trò của giảng viên mà trở thành phương tiện hỗ trợ giảng viên nâng cao hiệu quả chuẩn bị bài giảng, mở rộng khả năng khai thác thông tin, sáng tạo trong phương pháp truyền đạt kiến thức.
Hai là, từng bước xây dựng và phát triển nguồn học liệu số phục vụ giảng dạy, học tập
Một trong những kết quả bước đầu quan trọng của quá trình chuyển đổi số tại Khoa là việc hình thành tư duy xây dựng, khai thác và chia sẻ học liệu số. Các bài giảng điện tử, tài liệu chuyên môn, văn bản pháp luật, tài liệu tham khảo được giảng viên chủ động số hóa, hệ thống hóa, phục vụ hiệu quả cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu.
Đối với lĩnh vực nhà nước và pháp luật – lĩnh vực thường xuyên có sự thay đổi về thể chế, chính sách, pháp luật – việc khai thác nguồn tài liệu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp giảng viên nhanh chóng cập nhật các quy định mới, các vấn đề thực tiễn, góp phần nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và tính thời sự của nội dung giảng dạy.
Ba là, ứng dụng công nghệ thông tin góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số đang từng bước trở thành phương thức hỗ trợ quan trọng đối với đội ngũ giảng viên của Khoa. Việc khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật, nguồn tài liệu khoa học trực tuyến giúp giảng viên tiếp cận nhanh hơn với các nghiên cứu, các vấn đề lý luận và thực tiễn mới trong lĩnh vực nhà nước, pháp luật, quản trị quốc gia và quản lý địa phương.
Thông qua việc khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu số, các công trình nghiên cứu của giảng viên có điều kiện bám sát hơn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời tăng cường tính khoa học, tính cập nhật và khả năng vận dụng vào thực tiễn.
Đặc biệt, năm 2026, Khoa Nhà nước và pháp luật là một trong những đơn vị chủ động nghiên cứu, triển khai các nhiệm vụ khoa học gắn với ứng dụng công nghệ mới. Khoa chủ trì đề tài khoa học cấp Trường với chủ đề: “Ứng dụng công nghệ AI để nâng cao chất lượng giảng dạy phần học Quản lý hành chính nhà nước trong chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị Tô Hiệu”; đồng thời thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) và công nghệ API trong việc tra cứu tài liệu, xây dựng giáo án đồng giảng và đánh giá học viên tại Trường Chính trị Tô Hiệu”.
Đây là những hoạt động thể hiện sự chủ động của Khoa trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và đưa các công nghệ mới vào nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Bốn là, bước đầu ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn của Khoa
Bên cạnh giảng dạy và nghiên cứu khoa học, Khoa Nhà nước và pháp luật đã bước đầu nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành công việc nội bộ. Việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng phần mềm quản lý TMT-PLAN là một bước tiến trong đổi mới phương thức quản lý, hỗ trợ lãnh đạo Khoa trong xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ, theo dõi tiến độ và quản lý hoạt động chuyên môn.
Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành mà còn từng bước hình thành phương thức làm việc khoa học, minh bạch, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hoạt động của các trường chính trị.
Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong hoạt động của Khoa Nhà nước và pháp luật. Quan trọng hơn, quá trình này đã góp phần hình thành tư duy đổi mới, tinh thần chủ động học hỏi, khả năng thích ứng công nghệ của đội ngũ giảng viên – yếu tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình chuyển đổi số của nhà trường.
3. Một số hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại Khoa Nhà nước và pháp luật vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục.
Thứ nhất, trình độ và mức độ ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số giữa các giảng viên chưa đồng đều. Chủ yếu dừng lại ở việc sử dụng các công cụ công nghệ để hỗ trợ công việc truyền thống, chưa thực sự chuyển biến mạnh về tư duy và cách thức thực hiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý các hoạt động.
Thứ hai, việc xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung của Khoa chưa thực sự hoàn chỉnh. Nguồn tài liệu số hiện nay tuy đã được quan tâm xây dựng nhưng chưa được chuẩn hóa, tổ chức thành hệ thống có tính liên thông, chia sẻ lâu dài.
Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu khoa học vẫn còn những dư địa cần tiếp tục khai thác, nhất là trong sử dụng dữ liệu số, công cụ phân tích, các nền tảng hỗ trợ nghiên cứu chuyên sâu.
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, kỹ năng số của một bộ phận giảng viên cần tiếp tục được nâng cao; nhận thức về chuyển đổi số tuy đã có chuyển biến nhưng cần được củng cố sâu sắc hơn. Quy định, quy chế cụ thể cho chuyển đổi số trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại trường chính trị chưa hoàn thiện. Các công cụ an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ, nguồn lực đầu tư cho quá trình chuyển đổi số cần tiếp tục được hoàn thiện.
4. Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số tại Khoa Nhà nước và pháp luật
Để phát huy những kết quả đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế trong quá trình chuyển đổi số, thời gian tới Khoa Nhà nước và pháp luật cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo, định hướng của Chi bộ và tập thể Khoa đối với nhiệm vụ chuyển đổi số
Chi bộ, lãnh đạo Khoa cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, định hướng của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cụ thể hóa thành kế hoạch, nhiệm vụ phù hợp với đặc thù hoạt động chuyên môn của Khoa.
Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể của đội ngũ giảng viên trong thực hiện chuyển đổi số
Mỗi giảng viên cần xác định ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu của nghề nghiệp, chủ động tự học, tự nghiên cứu, nâng cao năng lực số, đặc biệt là kỹ năng xây dựng bài giảng số, khai thác dữ liệu, sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo phục vụ giảng dạy và nghiên cứu.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý chuyên môn
Khoa cần tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng chuyển từ “ứng dụng công nghệ để trình chiếu” sang “thiết kế môi trường học tập số”; xây dựng ngân hàng học liệu, tình huống, tài liệu tham khảo dùng chung; tăng cường ứng dụng các nền tảng tương tác, đánh giá trực tuyến.
Trong nghiên cứu khoa học, cần nâng cao khả năng khai thác dữ liệu số, sử dụng các công cụ hỗ trợ phân tích, tổng hợp thông tin; tiếp tục nghiên cứu ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả tìm kiếm tài liệu, xây dựng nội dung nghiên cứu và đổi mới phương pháp giảng dạy.
Trong quản lý, điều hành, tiếp tục hoàn thiện việc ứng dụng phần mềm TMT-PLAN và các công cụ số phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp, theo dõi tiến độ và quản lý công việc.
Thứ tư, bảo đảm các điều kiện phục vụ chuyển đổi số
Kiến nghị Nhà trường: tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng công nghệ, thiết bị phục vụ giảng dạy; hoàn thiện quy định, quy chế cụ thể cho chuyển đổi số trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại trường cũng như có cơ chế, công cụ đảm bảo an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu; xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ giảng viên ứng dụng công nghệ; gắn kết quả thực hiện chuyển đổi số với đánh giá chất lượng công việc, thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi số thực chất, hiệu quả.
Kết luận
Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới hoạt động của các trường chính trị hiện nay. Đối với Khoa Nhà nước và pháp luật, chuyển đổi số không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả công việc mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý chuyên môn.
Với tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm, Khoa Nhà nước và pháp luật Trường Chính trị Tô Hiệu tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, góp phần xây dựng Nhà trường ngày càng hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn mới.