ThS. Trần Công Long
Giảng viên chính, Khoa Xây dựng Đảng
Đối ngoại đa phương Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng ngày từ khi thành lập nước, đã đạt nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Kế thừa sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm sâu sắc đến công tác đối ngoại. Đối ngoại đa phương là một bộ phận của chính sách đối ngoại, là công cụ quan trọng giúp đạt được mục tiêu lợi ích quốc gia dân tộc, là an ninh, phát triển và vị thế. Trong từng giai đoạn lịch sử, thứ tự ưu tiên của các mục tiêu này có thể thay đổi. Ngày 08/8/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 25-CT/TW về việc đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030. Chỉ thị ra đời trong bối cảnh hoạt động đa phương và sự vận động của các thể chế đa phương cũng như việc triển khai công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay có nhiều biến động, thay đổi. Do đó, việc ưu tiên mục tiêu nâng tầm và phát huy vị thế là phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước, cũng như phát huy được thế mạnh đặc thù của đối ngoại đa phương, đồng thời là điều kiện quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Bài viết tập trung phân tích làm rõ nội hàm quan điểm “phát triển và nâng tầm đối ngoại đa phương” trong giai đoạn chiến lược mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
1. Quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại đa phương trong Chỉ thị 25- CT/TW của Ban Bí thư
Chỉ thị 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 đã đưa ra 6 quan điểm lớn chỉ đạo công tác đối ngoại đa phương của Việt Nam đến năm 2030. Cụ thể:
Thứ nhất, đẩy mạnh và nâng tầm hoạt động đối ngoại đa phương là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác đối ngoại là nòng cốt; là một định hướng chiến lược đối ngoại quan trọng hàng đầu, là phương thức hiệu quả để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, với phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nội dung này thể hiện tính chủ động của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời tích cực góp phần vào việc khẳng định và củng cố các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của quan hệ quốc tế được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, cùng giải quyết các vấn đề chung: Chính trị-an ninh, kinh tế - phát triển, văn hóa - xã hội và các lĩnh vực khác.
Thứ ba, hợp tác đa phương là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; đồng thời khôn khéo, mền dẻo, linh hoạt xử lý cân bằng, hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia, dân tộc, quan điểm của Việt Nam với những mối quan tâm chính đáng của các đối tác tùy theo vấn đề, thời điểm cụ thể trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Thứ tư, chủ động tham gia, tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự kinh tế - chính trị quốc tế minh bạch, công bằng, dân chủ, bền vững; đồng thời, khai thác, phát huy tối đa lợi ích mà hợp tác đa phương mang lại.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ đối ngoại đa phương với đối ngoại song phương, góp phần bảo đảm cân bằng, làm sâu sắc thêm quan hệ song phương với đối tác lớn, quan trọng.
Thứ sáu, phát huy sức mạnh tổng họp của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước; nâng cao tính đồng bộ đối ngoại đa phương Đảng -Nhà nước - Nhân dân; tăng cường bổ trợ giữa đối ngoại đa phương với đối ngoại song phương; đổi mới thể chế trong nước, huy động mọi tiềm năng của toàn xã hội; tăng cường cách tiếp cận liên ngành trong đối ngoại đa phương.
2. Thành tựu của đối ngoại đa phương Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Đối ngoại đa phương là một trong những phương thức phổ biến của nền ngoại giao hiện đại. Nó đang khẳng định vị trí cũng như tầm ảnh hưởng quan trọng của mình trong quan hệ quốc tế với tư cách là một công cụ hữu hiệu của các chủ thể để giải quyết các vấn đề quốc tế. Trước những biến động của tình hình thế giới khi bước vào kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo AI của Cách mạng công nghiệp 4.0 trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, công nghệ số đã và đang là phương tiện là cầu nối cho các quốc gia tăng cường đối ngoại đa phương trên nhiều phương diện với nhiều hoạt động ngoại giao hết sức sống động mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên trong đời sống quốc tế hiện đại.
Ở Việt Nam, từ khi lập nước (9-1945) ngoại giao đa phương đã được triển khai thành một mặt trận tạo nên sức mạnh tổng họp đưa lại những thắng lợi vẻ vang cho đất nước trong thế kỷ XX, giành lại độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước. Bước sang giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, tại Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991), với quan điểm “muốn” làm bạn với các nước và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế nhằm phá thế bao vây, cấm vận, đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới lần đầu tiên được đưa ra. Kể từ đó đến nay, đối ngoại đa phương của Việt Nam đóng vai trò ngày càng lớn, góp phần quan trọng làm nên thành công của nền ngoại giao Việt Nam, liên tiếp đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn đậm nét trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Với chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, Việt Nam tham gia và đóng góp ngày càng tích cực, chủ động, đa dạng về cấp độ, hình thức, phương thức, đối tác và có nhiều chuyển biến về chất lượng. Năng lực chủ trì, điều hành và vai trò dẫn dắt của Việt Nam ngày càng được khẳng định. Chỉ tính giai đoạn năm 2020 - 2025, với những biến động phức tạp và đa chiều của tình hình thế giới, khu vực đã và đang tác động sâu sắc đến môi truờng hòa bình, an ninh, phát triển của nước ta, đặt ra những thách thức, cơ hội đan xen. Tuy nhiên, đối ngoại Việt Nam đã vượt qua nhiều thách thức, tranh thủ, tạo ra và tận dụng tốt những cơ hội hơp tác mới, góp phần cùng cả nước khắc phục khó khăn và tiếp tục vươn lên trên con đường phát triển. Công tác đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giữ đà và thúc đẩy quan hệ với các đối tác, nâng cao vị thế của Việt Nam trong tình hình mới, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên nền tảng những thành quả trong giai đoạn đầu đổi mới, hội nhập, ngoại giao bước vào giai đoạn mới mở rộng quan hệ đối ngoại với chủ trương “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”. Nếu trước đổi mới, ta chỉ có quan hệ với hơn 100 quốc gia thì đến năm 2025 đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia. Các mối quan hệ ngày càng đi vào chiều sâu, bền vững hơn, đặc biệt là việc hình thành khuôn khổ quan hệ với 38 quốc gia, trong đó có 15 đối tác chiến lược toàn diện, 10 đối tác chiến lược và 15 đối tác toàn diện.
3. Định hướng Việt Nam nâng tầm đối ngoại đa phương trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh tình hình thế giớ và trong nước có nhiều thay đổi, tạo ra thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã vạch ra định hướng chiến lược cho đối ngoại Việt Nam, khẳng định đối ngoại đa phương cần được xác định là kênh quan trọng để nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế; đồng thời, phát huy vị thế quốc gia để phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bên cạnh các nội hàm cốt lõi, có tính xuyên suốt, Đại hội Đảng XIV đã bổ sung nhiều nội hàm mới, rất quan trọng trong đường lối đối ngoại:
Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh mục tiêu “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước”. Đối ngoại, hội nhập quốc tế vừa qua đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật. Tuy nhiên, dư địa để chúng ta củng cố hơn nữa cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho đất nước vẫn còn lớn. Đồng thời, những yêu cầu cấp bách của đất nước trong kỷ nguyên mới và những thay đổi mang tính thời đại trên thế giới hiện nay đòi hỏi đối ngoại Việt Nam phải vươn lên.
Thứ hai, bổ sung quan điểm “tự chủ chiến lược” và “tự cường”. Đây là quan điểm chỉ đạo chung, rất quan trọng với đối ngoại. Điều này bắt nguồn từ tư tưởng lớn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ từng khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, và “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quy luật cách mạng Việt Nam: theo đó sức mạnh bên trong đóng vai trò quyết định; sức mạnh bên ngoài từ đoàn kết, hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng. Đây vừa là sự thích ứng chủ động của ta trước bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay, và cũng là sự đúc kết từ bài học kinh nghiệm trong thời gian qua.
Thứ ba, khẳng định vai trò, sứ mệnh của đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Văn kiện đã nói rõ “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Theo đó, “trọng yếu, thường xuyên” là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, liên quan đến sự tồn vong, an nguy, thịnh suy của đất nước; là một phương thức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và nay là góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
"Tính trọng yếu, thường xuyên đòi hỏi bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, thể hiện sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, trong đó có sự thể chế hóa việc phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; giữa Trung ương và địa phương; giữa các Ban và Bộ, ngành. Đây cũng là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó có các lực lượng làm công tác đối ngoại đóng vai trò nòng cốt và chủ động trong công tác triển khai"[1]. Trong kỷ nguyên mới, đối ngoại phải thể hiện rõ tâm thế mới, khát vọng mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, phải góp phần hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đã đề ra và mong ước của Bác Hồ là đưa Việt Nam “sánh vai các cường quốc năm châu”. Theo đó, đối ngoại trong kỷ nguyên mới cần tập trung vào các mục tiêu sau:
Một là, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, nhận diện và hóa giải các nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tranh thủ thời cơ, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi cho đất nước, tạo dựng các khuôn khổ quan hệ bền vững, có chiều sâu, ổn định, thực chất với các đối tác; định vị đất nước một cách có lợi nhất trong trật tự thế giới mới.
Hai là, chủ động phát huy vai trò tiên phong, đi trước, mở đường trong việc tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để phục vụ các lợi ích an ninh, phát triển của đất nước, đóng góp thiết thực cho mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội mới, dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Đặc biệt, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ sau Đại hội XIV của Đảng.
Ba là, góp phần nâng cao vị thế, uy tín, hình ảnh đất nước trên trường quốc tế; huy động được sự ủng hộ, tin tưởng, giúp đỡ và đồng hành của bạn bè, đối tác quốc tế, với vai trò, vị thế lớn hơn của ta trên trường quốc tế, tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế.
Bốn là, triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới trên 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân. Ngoại giao phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Với tinh thần “không để một ngày lãng phí, một tuần chậm trễ”, triển khai kịp thời, hiệu quả, sáng tạo các lĩnh vực quan trọng của công tác đối ngoại: trong đó có lĩnh vực đối ngoại văn hoá, ngoại giao văn hoá. Nắm chắc tình hình, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu cho Đảng và Nhà nước, tuyệt đối không để đất nước bị động, bất ngờ trong bất kỳ tình huống nào.
Năm là, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, xây dựng bộ máy tổ chức tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, làm tốt công tác xây dựng Đảng, đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có cả đức, sức, tài, có kỷ luật, kỷ cương, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, có ý thức trách nhiệm cao trước lịch sử, trước Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân phục vụ, đáp ứng yêu cầu cao trong kỷ nguyên mới.
Đây vừa là trách nhiệm quốc tế, vừa là lợi ích quốc gia - dân tộc, thực hiện tốt các quan điểm trong Văn kiện Đảng XIV về đối ngoại với các mục tiêu trên đây sẽ góp phần “nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị khu vực và toàn cầu, đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là hoạt động đối ngoại giúp “nâng tầm, chủ động mở rộng đóng góp của Việt Nam cho sự nghiệp cách mạng thế giới, cho hòa bình, hợp tác, phát triển và tiến bộ của nhân loại”.
[1] Bộ trưởng Lê Hoài Trung trình bày Chuyên đề “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước” tại Hội nghị quán triệt Văn kiện Đại hội Đảng XIV