Chủ tịch Hồ Chí Minh - Biểu tượng của tinh hoa và khí phách dân tộc Việt Nam

Cập nhật: 18/05/2026 09:50

 ThS Lê Anh Đào
                                                                               Giảng viên, Khoa Xây dựng Đảng

1. Hồ Chí Minh - từ người thanh niên yêu nước đến lãnh tụ của dân tộc

       Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với những bước ngoặt vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 đến việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và dẫn dắt nhân dân đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, dù đã đi xa nhưng di sản tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Người là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

        Viết về Hồ Chí Minh tưởng như là điều gần gũi, quen thuộc, nhưng thực chất lại là một nhiệm vụ không hề đơn giản. Bởi lẽ, Người không chỉ là một nhân vật lịch sử kiệt xuất mà còn là biểu tượng kết tinh những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại. Cuộc đời của Người là sự thống nhất hài hòa giữa con người cá nhân bình dị và tầm vóc của một lãnh tụ vĩ đại, giữa truyền thống dân tộc và tư tưởng tiến bộ của thời đại. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Hồ Chủ tịch là sự kết tinh cao đẹp của truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại”.

        Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể thấy Hồ Chí Minh vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, vừa là chủ thể cải biến lịch sử. Người trưởng thành trong bối cảnh đất nước mất độc lập, nhân dân chìm trong cảnh lầm than dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến. Những phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại, đất nước rơi vào khủng hoảng về đường lối cứu nước. Chính trong hoàn cảnh ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hình thành ý chí cứu nước mãnh liệt và quyết tâm tìm một con đường mới cho dân tộc. Ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ. Quyết định ấy không chỉ xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc mà còn thể hiện tư duy độc lập, bản lĩnh và tầm nhìn vượt thời đại của Người. Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào, rồi trở về giúp đồng bào chúng ta”. Câu nói thật giản dị nhưng cho thấy khát vọng lớn lao của một con người đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết.

Ngày 5/6/1911, từ bến Nhà Rồng - cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc,
ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão 
giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc

       Hành trình ba mươi năm bôn ba qua nhiều quốc gia và châu lục đã giúp Người trực tiếp chứng kiến bản chất của chủ nghĩa thực dân, hiểu rõ sự áp bức đối với các dân tộc thuộc địa, đồng thời tiếp cận với nhiều luồng tư tưởng tiến bộ của nhân loại. Trong quá trình lao động, học tập và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Người không ngừng tìm tòi, khảo nghiệm các con đường cứu nước khác nhau. Từ thực tiễn ấy, Hồ Chí Minh nhận ra rằng các con đường cứu nước cũ đều không thể giải phóng dân tộc Việt Nam một cách triệt để. Bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người tiếp cận Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người xúc động viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!”. Từ đây, Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, mở ra bước ngoặt cho cách mạng Việt Nam. Việc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 và sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã thể hiện sự trưởng thành vượt bậc về tư duy chính trị và tầm vóc lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Người không chỉ tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cứng nhắc, giáo điều mà luôn vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Chính điều đó tạo nên giá trị đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh - sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống với lý luận cách mạng khoa học của thời đại.

        2. Hồ Chí Minh – biểu tượng của trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh cách mạng

       Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện tư duy biện chứng sâu sắc, sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cách mạng linh hoạt. Mục tiêu nhất quán của Người là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa mà Người đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày 02/9/1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử 
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, Hồ Chí Minh luôn mềm dẻo về sách lược, linh hoạt về phương pháp nhằm đạt mục tiêu tối cao là bảo vệ lợi ích dân tộc. Đó chính là biểu hiện sinh động của tư duy chiến lược sắc bén và phong cách lãnh đạo khoa học. Người luôn biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn: nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ. Trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh vừa là nhà lãnh đạo sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thử thách, vừa là biểu tượng tiêu biểu của tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điều làm nên tầm vóc đặc biệt của Hồ Chí Minh không chỉ là tài năng lãnh đạo mà còn là một nhân cách lớn, tấm gương đạo đức cách mạng mẫu mực. Cuộc đời của Người là hiện thân sinh động của những phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo đói, Bác Hồ luôn thực hành tiết kiệm, sống giản dị, gần gũi với nhân dân. Có những thời điểm Người chủ động nhịn ăn để sẻ chia với đồng bào trong nạn đói. Những hành động tuy bình dị nhưng chứa đựng giá trị nhân văn lớn lao, thể hiện sâu sắc tư tưởng “lấy dân làm gốc”.

      Trong tác phẩm Đời sống mới, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của việc xây dựng đời sống mới, xây dựng con người mới với các chuẩn mực đạo đức. Điều đáng quý là những chuẩn mực đạo đức ấy không chỉ dừng lại ở lý luận mà được chính Người thực hành trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Từ ngôi nhà sàn đơn sơ giữa Phủ Chủ tịch đến bộ quần áo ka-ki bạc màu, đôi dép cao su giản dị, tất cả đều phản ánh phong cách sống thanh cao và gần gũi của Người. Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân. Người khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Quan điểm ấy thể hiện niềm tin sâu sắc vào sức mạnh quần chúng nhân dân - cội nguồn của mọi thắng lợi cách mạng. Chính sự gần gũi, chân thành và hết lòng vì nhân dân đã giúp Hồ Chí Minh xây dựng được niềm tin to lớn trong quần chúng, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Không chỉ là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh còn là biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX. Tư tưởng của Người về độc lập dân tộc, quyền con người, hòa bình và hợp tác quốc tế đã có sức ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều dân tộc bị áp bức. Năm 1987, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Đây không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam.

        Có thể khẳng định rằng, Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa con người cụ thể và biểu tượng lịch sử. Chính những phẩm chất rất “con người” như ý chí tự học, nghị lực vượt khó, khả năng tư duy độc lập và tinh thần cống hiến không mệt mỏi đã làm nên tầm vóc vĩ đại của Người. Từ một người thanh niên yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã trở thành lãnh tụ thiên tài của dân tộc, trở thành biểu tượng tiêu biểu cho khát vọng độc lập, tự do, lương tri và phẩm giá con người.

        3. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

         Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người vẫn là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đảng ta luôn xác định việc học tập và làm theo Bác là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát huy nhân tố con người, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều đó cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước ta. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, học tập và làm theo Bác trước hết là học ở tinh thần trách nhiệm, ý thức phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Mỗi cán bộ phải thật sự gương mẫu trong công việc và cuộc sống, nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo đánh giá năng lực và phẩm chất. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và tinh thần đổi mới sáng tạo càng trở nên cần thiết. Học tập Bác là học ở tinh thần tự học, khát vọng cống hiến và ý chí vượt khó vươn lên trong mọi hoàn cảnh.

      Trong suốt cuộc đời mình, Người luôn không ngừng học tập, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để phục vụ sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đó là bài học có giá trị sâu sắc đối với mọi thế hệ người Việt Nam trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế hiện nay. Việc nuôi dưỡng lý tưởng cách mạng, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn và trách nhiệm xã hội để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ vô cùng cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu thuộc về chuyên môn, nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm chính trị. Người giảng viên lý luận chính trị không chỉ truyền đạt tri thức mà còn phải là tấm gương về đạo đức, tác phong và phương pháp làm việc khoa học. Mỗi bài giảng cần gắn lý luận với thực tiễn, giúp học viên nâng cao năng lực tư duy và khả năng vận dụng vào công tác thực tiễn, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn và trách nhiệm xã hội để góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp.

      Từ một người thanh niên mang trong mình khát vọng cứu nước, Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng kết tinh những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam và thời đại. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là bản anh hùng ca bất diệt về lòng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và khát vọng giải phóng con người. Giá trị tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh sẽ mãi là nền tảng tinh thần vững chắc, soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam hôm nay và mai sau.                                                                                           

 

 

Các tin dã dang