Một số điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác ngoại giao

Cập nhật: 28/04/2026 15:07

ThS. Phan Huy Toán
Giảng viên chính, 
Khoa Lý luận cơ sở

Ngoại giao là chìa khóa kiến tạo, củng cố và phát triển các mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quân sự... của một quốc gia với thế giới bên ngoài. Xác định vai trò quan trọng của công tác đối ngoại, Đại hội XIV của Đảng Cộng Sản Việt Nam (tháng 01/2026) là dấu mốc đặc biệt quan trọng, định hướng phát triển của công tác ngoại giao nói riêng và của đất nước nói riêng trong giai đoạn mới; những thay đổi trong quan điểm của Đảng cũng như áp dụng, triển khai các chính sách ngoại giao trong thực tiễn sẽ đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Đại hội XIV của Đảng Cộng Sản Việt Nam (tháng 01/2026) lần đầu tiên Đảng ta xác định công tác đối ngoại ở vị trí rất cao; đưa nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, ngang tầm với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, thể hiện sự đột phá tư duy về chiến lược đối ngoại của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. thể hiện “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”.

Đây là sự thăng hạng chưa từng có của ngành ngoại giao trong cấu trúc tư duy chiến lược của Việt Nam nói chung và của Đảng ta nói riêng. Với vị trí này của ngành ngoại giao Việt Nam, cho thấy trong tương lai ngành ngoại giao sẽ đảm nhận những trọng trách to lớn hơn nữa, cũng y như những gì ngoại giao đã làm được trong suốt hành trình phát triển của đất nước. Nhìn lại một chẳng đường vẻ vang của ngành ngoại giao nước nhà; đánh dấu một mốc son mới về chất của cách mạng Việt Nam.

 Cách đây 80 năm, ngày 28-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm 15 bộ, trong đó có Bộ Ngoại giao do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Bộ trưởng. Từ đó, ngày 28-8 trở thành ngày truyền thống hằng năm của ngành ngoại giao Việt Nam. Trong 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã khai sinh ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại; ngoại giao Việt Nam, đồng hành cùng với dân tộc, trưởng thành và lớn mạnh không ngừng, góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước.

 Ngay sau khi thành lập, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao được xác định là mặt trận chiến lược trọng yếu, phối hợp chặt chẽ với quân sự và chính trị, thực hiện chính sách đối ngoại khôn khéo, thực hiện "hòa hoãn" với quân Tưởng ở miền Bắc và Pháp ở miền Nam để hoãn binh, tập trung lực lượng cho kháng chiến lâu dài. Phá vỡ thế bao vây, tạo liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia, tranh thủ sự ủng hộ của các nước XHCN (Liên Xô, Trung Quốc) và nhân dân thế giới.

Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954): Phá thế bao vây: Đưa Việt Nam từ thế bị bao vây trở thành một thành viên được các nước XHCN công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao.

Cùng với những thắng lợi lớn trên mặt trận quân sự (Điện Biên Phủ), đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán diễn ra quyết liệt, buộc Pháp ký Hiệp định Geneva (1954) chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam.

Hòa bình chưa được bao lâu, Đế quốc Mỹ từng bước can thiệp vào Việt Nam, ngoại giao Việt Nam cũng bước vào trận chiến mới; giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).

Ngoại giao trở thành một mặt trận chiến lược, "vừa đánh vừa đàm", chủ động đấu tranh trên các diễn đàn quốc tế. đồng thời tranh thủ sự ủng hộ: Tập hợp sức mạnh nhân loại tiến bộ, bao gồm cả nhân dân Mỹ, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Những cuộc đấu trí bền bỉ, sắc bén, sau một thời gian rất dài đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước, tạo tiền đề cho đại thắng mùa Xuân năm 1975.

 Như vậy, trong giai đoạn cách mạng bảo vệ tổ quốc, ngoại giao trở thành một trong ba mặt trận trọng yếu: ngoại giao, chính trị và quân sự, cùng phối hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo vệ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc. Trong giai đoạn này, công tác ngoại giao đã giải quyết được những nhiệm vụ lớn như:

Một là, lan tỏa cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam ra toàn thế giới, góp phần tạo nên phong trào ủng hộ Việt Nam rộng khắp và mạnh mẽ, không chỉ ở nhiều quốc gia mà ngay cả trong lòng nước Pháp và Mỹ

Hai là, nhấn mạnh tính chính danh của sự nghiệp đấu tranh. Nếu trước đây Việt Nam chưa có tên trên bản đồ, thì thông qua kháng chiến và ngoại giao, hình ảnh “ Việt Nam bất khuất anh hùng” đã vang dội toàn cầu, củng cố chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Ba là, trực tiếp góp phần kết thúc chiến tranh “một cách có lợi” cho Việt Nam, được đánh dấu bởi các Hiệp định lớn như Geneve và Paris. Kết quả các cuộc đàm phán này để lại dấu ấn đậm nét khi các văn bản quốc tế đều khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Bước vào kỉ nguyên hội nhập, từ 1986 đến nay, việc Việt Nam xích lại thế giới là công lao to lớn của ngành ngoại giao nước nhà.

Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986), Việt Nam khởi xướng đường lối Đổi mới, Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là "... tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc"... và " cần hòa bình để phát triển kinh tế". Nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị- xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để phát triển, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới.

Tháng 5/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW "Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới". Do đó, nhiệm vụ ưu tiên là ngoại giao cùng với Quốc phòng đểcủa đất nước là xây dựng nền kinh tế đát nước mạnh, quốc phòng vững chắc và mở rộng hợp tác quốc tế, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị nhấn mạnh phương châm đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa – theo tinh thần "thêm bạn, bớt thù". Nghị quyết 13 được đánh giá là cột mốc lớn trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam. Kể từ đó, tất cả các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo đều tiếp tục khẳng định và bổ sung đường lối này.

Tại Đại hội VII (tháng 6/1991), Báo cáo chính trị khẳng định Việt Nam sẽ "đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với tất cả các nước và tổ chức kinh tế..." Báo cáo chính trị nêu rõ: "Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình". Mục tiêu của Việt Nam là phát triển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, hợp tác cùng có lợi với các nước Bắc và Tây Âu, Nhật Bản và các nước phát triển khác và bình thường hóa quan hệ với Mỹ... ngành Ngoại giao trong giai đoạn này đã đạt được các thành công to lớn như Nghị quyết của Đảng đề ra

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX đã diễn ra những biến động to lớn: sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và cuộc khủng hoảng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Những biến động này diễn ra vào lúc nước ta chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và các lực lượng thù địch lợi dụng sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tăng cường chiến tranh tâm lý chống Việt Nam. Tình hình phức tạp mới trên thế giới tác động không nhỏ đến công tác ngoại giao Việt Nam đã đổi mới tư duy trong đối ngoại, theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy là "Dĩ bất biến ứng vạn biến".

 Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, ngoại giao Việt Nam đã thành trong việc đẩy mạnh các hoạt động nhằm góp phần vào việc phá vỡ thế bao vây cô lập, tranh thủ thiết lập quan hệ với tất cả các nước, trước hết là các nước lớn, mở rộng quan hệ đối với tất cả các khu vực trên thế giới, các tổ chức quốc tế nhằm tạo điều kiện cho bước đầu hội nhập.

Ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng đẩy mạnh và nâng ngoại giao văn hóa thành một trụ cột chính cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, tạo thành sức mạnh tổng hợp cho ngoại giao Việt Nam hiện đại. Nhiều di sản của đất nước, như quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Kho mộc bản triều Nguyễn... và nhiều thắng cảnh, như Cù Lao Chàm, Mũi Cà Mau v.v.. đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Như vậy, với tư duy rộng mở, đa phương hóa, ngoại giao Việt Nam đã định hình thành ba trụ cột quan trong, giúp từng bước mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại với nhiều nước trên thế giới và nhiều tổ chức quốc tế. Nhờ đó, nhiều tổ chức kinh tế quốc tế như: IMF, World Bank đã sớm bình thường hoá và thiết lập quan hệ với Việt Nam; Việt Nam lần lượt gia nhập một loạt các cơ chế đa phương quan trọng như: Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM) (1996), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) (1998), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (2007), làm cầu nối để Việt Nam bước vào sân chơi kinh tế toàn cầu...

Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 193 nước và các tổ chức quốc tế quan trọng nhất, nâng cấp quan hệ và tạo mạng lưới đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đặc biệt là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn.

Nhìn lại chặng đường 40 năm công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động có thể thấy, ngoại giao Việt Nam đã có những cống hiến to lớn và định hình rõ nét những trụ cột trong đời sống chính trị Việt Nam.

Quan hệ quốc tế mặc dù không mấy thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước sau 30 năm chiến tranh và bị bao vây cấm vận, nhưng đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế trên trường quốc tế cao như hiện nay, có phần đóng góp không nhỏ của ngành ngoại giao; đồng thời tao cơ hội lớn để Việt Nam tích cực đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới, với trọng trách mới, sẽ xứng đáng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước mà được Đại hội Đảng XVI danh cho; Theo đó, đối ngoại trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” có mấy điểm sau đây.

Thứ nhất, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, nhận diện và hóa giải các nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tranh thủ thời cơ, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi cho đất nước, tạo dựng các khuôn khổ quan hệ bền vững, có chiều sâu, ổn định, thực chất với các đối tác; định vị đất nước một cách có lợi nhất trong trật tự thế giới mới.

Thứ hai, chủ động phát huy vai trò tiên phong, đi trước, mở đường trong việc tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để phục vụ các lợi ích an ninh, phát triển của đất nước, đóng góp thiết thực cho mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội mới, 3 đột phá chiến lược và các chuyển đổi quan trọng của đất nước. Đặc biệt, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên như Đại hội Đảng XIV đề ra.

Thứ ba, góp phần nâng cao vị thế, uy tín, hình ảnh đất nước trên trường quốc tế; huy động được sự ủng hộ, tin tưởng, giúp đỡ và đồng hành của bạn bè, đối tác quốc tế, với vai trò, vị thế lớn hơn của ta trên trường quốc tế, tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế.

 Nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Đường lối đối ngoại Đại hội XIV là một bộ phận trong tổng thể đường lối của Đảng, kế thừa truyền thống đối ngoại, ngoại giao của dân tộc ta, với truyền thống vẻ vang đó ngành ngoại giao Việt Nam sẽ đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.