TS. Phạm Thị Bảo Thoa
Giảng viên chính, Khoa Lý luận cơ sở
Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười, nước Nga xã hội chủ nghĩa non trẻ đã phải đối mặt với sự bao vây cấm vận bởi các nước đế quốc cùng sự phá hoại của bọn Bạch vệ. Trước tình thế hết sức khó khăn, chính quyền Xôviết đã thực hiện “Chính sách cộng sản thời chiến” với những biện pháp nổi bật như: thực hiện trưng thu lương thực; không thừa nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ; tập trung nguồn lực phục vụ chiến tranh; ... Điều này đã giúp nước Nga giải quyết được khó khăn trước mắt; giữ vững thành quả cách mạng và bước đầu đạt được những thành tựu trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi cuộc nội chiến ở nước Nga kết thúc, sách này đã bộc lộ những hạn chế, không phù hợp với bối cảnh mới. Nền kinh tế đã có những dấu hiệu trì trệ, kém phát triển, ... Đồng thời, cũng gây nên rạn nứt, không thống nhất trong nội bộ Đảng Cộng sản Nga,… Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn, lãnh tụ V.I Lênin nhận thấy cần phải thay thế “Chính sách cộng sản thời chiến” bằng “Chính sách kinh tế mới - NEP”.
Dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin “Chính sách kinh tế mới - NEP” đã ngay lập tức phát huy tác dụng tạo ra sự phát triển có tính đột phá trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và sau này là Liên Xô. Mặc dù vậy, sau sự ra đi của lãnh tụ V.L Lênin, do nhiều nguyên nhân, “Chính sách kinh tế mới - NEP” đã không được áp dụng một cách phổ biến và liên tục ở Liên Xô các nước xã hội chủ nghĩa. Đến cuối thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, “Chính sách kinh tế mới - NEP” mới được nghiên cứu một cách đầy đủ, nghiêm túc; những giá trị khoa học được khẳng định, được vận dụng và phát triển sáng tạo ở một số nước trong đó có Việt Nam.
1. Giá trị khoa học trong Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin
Chính sách kinh tế mới gồm những nội dung chủ yếu: (i) phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; (ii) thực hiện chính sách thuế lương thực; (iii) khôi phục trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế tư bản nhà nước. Triển khai chính sách kinh tế mới - NEP đã giúp nền kinh tế nước Nga phục hồi nhanh chóng, khẳng định giá trị khoa học của chính sách này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Giá trị khoa học của Chính sách kinh tế mới - NEP của V.I.Lênin thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, Chính sách kinh tế mới - NEP là sự đổi mới tư duy trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Chuyển từ Chính sách cộng sản thời chiến sang Chính sách kinh tế mới là một đột phá, đổi mới về tư duy của V.I Lênin trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi xã hội đang quen với cách quản lý, vận hành theo mệnh lệnh, không có quan hệ hàng - tiền thì NEP cho phép khôi phục quan hệ trao đổi hàng hoá, thừa nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Đã có “nhiều cuộc bàn cãi và tranh luận”[1] về Chính sách kinh tế mới, cho rằng thực hiện NEP, phát triển kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận quan hệ thị trường, quan hệ hàng - tiền là cổ vũ cho quan hệ bóc lột vốn thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản. V.I Lênin đã dành nhiều thời gian, tâm sức để thuyết phục chính những người đồng chí của mình về tính đúng đắn của NEP. V.I Lênin đã chỉ rõ danh từ “nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô - viết” là việc quyết tâm thực hiện các bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội chứ chưa phải là chế độ xã hội chủ nghĩa. Xã hội mà C. Mác đề cập trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản là một xã hội cộng sản hoàn chỉnh, và để bước đến xã hội hoàn chỉnh ấy, cần phải thông qua các bước quá độ. Nói cách khác, đây là bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội - là giai đoạn cần phát huy tất cả các nguồn lực trong xã hội để tạo dựng tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đó, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một quy luật khách quan, cũng là đặc điểm cơ bản nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với kết cấu kinh tế - xã hội mà ở đó có sự đan xen giữa các bộ phận kinh tế của xã hội hiện hành và xã hội mới, sự đan xen kết cấu kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Khôi phục lại quan hệ trao đổi hàng hoá, thực hiện thu thuế lương thực là những nội dung kinh tế khác biệt hoàn toàn với những nội dung của Chính sách cộng sản thời chiến. Song, V.I Lênin khẳng định Chính sách cộng sản thời chiến chỉ là một “chính sách tạm thời”, NEP là chính sách khắc phục được hạn chế của Chính sách cộng sản thời chiến trong thời bình, khắc phục được khó khăn của kinh tế nước Nga, đảm bảo nhiệm vụ to lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được tiến hành hiệu quả - xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Chính sách kinh tế mới - NEP đã góp phần làm sáng rõ hơn lý luận về con đường, phương thức tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, và sau này là các nước nông nghiệp lạc hậu.
Thứ hai, thực hiện Chính sách kinh tế mới - NEP là sự tôn trọng các quy luật kinh tế từ đó thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển quan hệ hàng hoá, tiền tệ để khai thác, phát huy tất cả các nguồn lực vật chất xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi triển khai Chính sách kinh tế mới - NEP, V.I Lênin đã nhận được “số lượng to lớn những thư ngắn, cả một núi giấy… chứng tỏ một cách hiển nhiên hơn rằng trong vấn đề cụ thể đó, rất nhiều những khó khăn xuất hiện khi chúng ta thực hành sự thay đổi đó trong chính sách của chúng ta”[2]. V.I Lênin khẳng định không thể ngay lập tức giải quyết tất cả các khó khăn đó, và nếu vì thấy khó khăn mà không chịu thay đổi, vẫn giữ nguyên việc trưng thu lương thực thì “chúng ta sẽ tự bó tay”, phải quyết tâm thay đổi chính sách kinh tế, mới có thể làm cho số lượng sản phẩm tăng lên. Bởi những người nông dân, công nhân “đã bần cùng, phá sản, mệt mỏi và kiệt sức” cho nên phải tăng “cho bằng được số lượng sản phẩm lên” mới có thể khuyến khích họ tiếp tục lao động, sáng tạo, cống hiến cho cách mạng. Thay vì “thi hành đến mức tối đa chế độ độc quyền… trưng thu tất cả lương thực thừa mà thậm chí không bồi thường gì hết”[3] thì thực hiện thuế lương thực dựa vào diện tích đất, nhân khẩu,… Được tự do trao đổi sau khi nộp thuế sẽ giúp các sản phẩm của nông nghiệp, công nghiệp có thể được dịch chuyển sang nhau dễ dàng hơn, đồng thời xác định được đúng đắn vai trò của công nghiệp, nông nghiệp trong thực hiện các nhiệm vụ kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không phải là thời kỳ của xã hội cộng sản hoàn chỉnh, do đó, chấp nhận những quy luật của thị trường con đường ngắn nhất để tạo ra nhiều của cải vật chất, tăng năng suất lao động. Khi người lao động được trao đổi hàng hoá, được tự do phát triển kinh tế, họ sẽ luôn sáng tạo, đổi mới phương thức sản xuất để thu về những kết quả tốt nhất cho mình, sau đó là cho toàn xã hội. Theo V.I Lênin, những người cộng sản không nên lo sợ nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa khi phát triển quan hệ thị trường, hàng - tiền đã được V.I.Lênin, bởi xã hội đã được quản lý bởi nhà nước vô sản.
Thực hiện NEP, V.I Lênin cũng bàn về phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước. Chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể hiểu là một thành phần kinh tế, song cũng có thể hiểu là một chính sách kinh tế gồm có các hình thức: chế độ tô nhượng, hợp tác xã, nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách nhà buôn (nhà nước cho nhà tư bản hoa hồng để nhà tư bản bán sản phẩm của nhà nước hoặc mua sản phẩm của nhà sản xuất nhỏ). Đây là những kiểu kết cấu kinh tế mới, đảm bảo khuyến khích các nhà tư bản kết hợp cùng nhà nước, nhà tư bản sẽ thu được lợi nhuận theo nguyên tắc thị trường, nhà nước vô sản thì học hỏi được kinh nghiệm từ các chuyên gia tư sản cách làm kinh tế, lực lượng sản xuất phát triển hơn.
NEP là một chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, đã được nước Nga thực hiện trong giai đoạn 1921 - 1928 với những kết quả đáng ghi nhận. Nền kinh tế Nga phục hồi nhanh chóng, nông nghiệp, công nghiệp phát triển.
2. Sự vận dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới - NEP tại Việt Nam
Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định các thành phần kinh tế trong vùng tự do Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954. Sau năm 1954, Người chỉ ra những hình thức sở hữu mà tương ứng với đó là các loại “kinh tế” trong chế độ dân chủ mới ở miền Bắc Việt Nam. Như vậy, có thể thấy những tư tưởng tiến bộ trong Chính sách kinh tế mới - NEP đã có ảnh hưởng và bước đầu được vận dụng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở Việt Nam; nhất là tư tưởng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Song, do những điều kiện khách quan của đất nước và tình hình quốc tế, những thành phần kinh tế này chưa có điều kiện, môi trường, ... để phát triển đầy đủ và phát huy tác dụng. Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần chỉ thực sự được thực hiện từ năm 1986 trong đưởng lối đổi mới của Việt Nam. Từ đó đến nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo Chính sách kinh tế mới - NEP của V.I Lênin Việt Nam đã được thực hiện xuyên suốt và nhất quán.
Thứ nhất, lựa chọn và xác định vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế phù hợp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát triển kinh tế nhiều thành phần tại Việt Nam là sự vận dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới - NEP của V.I Lênin. V.I.Lênin chỉ ra sự tồn tại tất yếu khách quan của kinh tế nhiều thành phần, song ông cũng khẳng định mối quan hệ giữa tính quy luật chung và tính đặc thù của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó có nghĩa, với những xã hội cụ thể thì các thành phần kinh tế có thể khác nhau về số lượng, về tên gọi. Vận dụng quan điểm đó, Việt Nam đã phân định, xác định vai trò của các thành phần kinh tế phù hợp với điều kiện trong từng giai đoạn phát triển đất nước.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Kinh tế tập thể đã chuyển sang mô hình kiểu mới phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế[4]. Đối với thành phần kinh tế nhà nước, Việt Nam luôn nhất quán vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay. Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam càng chú trọng phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị là thể chế đột phá, tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, là động lực to lớn để kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với kinh tế tư nhân, từ vị trí là thành phần kinh tế “cần được cải tạo”, đến nay, kinh tế tư nhân được xác định “là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”[5]. Sự thay đổi trong tư duy lý luận này hoàn toàn phù hợp với quy luật thị trường cũng như điều kiện của Việt Nam.
Thứ hai, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của V.I Lênin về kinh tế tư bản nhà nước
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ X, kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế duy nhất không hề đổi tên. Song đến Đại hội Đảng lần thứ XI, kinh tế tư bản nhà nước lại không được kể tên trong 04 thành phần kinh tế được xác định trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thay đổi này không phải là sự mâu thuẫn trong đường lối phát triển các thành phần kinh tế của Đảng mà là sự thích nghi, thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Kinh tế tư bản nhà nước có thể coi là một thành phần kinh tế trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Là sự kết hợp giữa nhà nước và các nhà tư bản thông qua chế độ tô nhượng. Tuy nhiên, khi Việt Nam – Hoa Kỳ đạt được thoả thuận bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa hai nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được tách thành một thành kinh tế riêng. Hợp tác xã cũng được xác định là nòng cốt của thành phần kinh tế tập thể. Do đó, với điều kiện của đất nước khi đã mở rộng hội nhập, kinh tế tư bản nhà nước không mất đi mà được coi là một chính sách kinh tế vĩ mô, ở đó bao gồm các hình thức tô nhượng, hợp tác xã và sự kết hợp giữa nhà nước với doanh nghiệp tư bản tư nhân theo những hình thức ngày càng phong phú và đa dạng.
Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển kinh tế nhiều thành phần, tôn trọng các quy luật kinh tế, quan hệ hàng hoá - tiền tệ, đã giúp Việt Nam vượt qua khủng hoảng kinh tế, giải quyết được lạm phát phi mã mà còn đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế có độ mở thương mại thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, quy mô nền kinh tế không ngừng được gia tăng với GDP tăng từ 446 nghìn tỉ đồng vào năm 1986 lên 3,847 triệu tỉ đồng vào năm 2020 và 10,22 triệu tỉ đồng năm 2023, năm 2025 là 12,8 triệu tỉ đồng[6]. GDP Việt Nam tăng gấp hơn 50 lần so với năm 1986, là một trong những nền kinh tế có quy mô tăng nhiều nhất, ổn định và trong thời gian dài trên thế giới.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới ở Việt Nam, đã chứng minh đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản việt Nam; đặc biệt với việc vận dụng và phát triển sáng tạo Chính sách kinh tế mới - NEP là hoàn toàn đúng đắn. Có thể thế giới đã có nhiều thay đổi, nhưng những tư tưởng của Chính sách kinh tế mới - NEP vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và ý nghĩa thời đại trong bối cảnh hiện nay./.
[1] V.I.Lênin: toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1980, Tập 43, tr.244
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.108 - 109
[5] Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân.
[6] Cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025 https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/