Đồng chí Hà Huy Tập (1906-1941) là một trong những người cộng sản kiên trung, mẫu mực của phong trào cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là sự kết tinh của tinh thần học tập không ngừng, lý luận gắn với thực tiễn, đạo đức trong sáng và khí tiết bất khuất trước kẻ thù.
1. Nhân cách và những phẩm chất sáng ngời của Hà Huy Tập
Xuất thân và những năm tháng hình thành nhân cách cách mạng. Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24 tháng 4 năm 1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh) - vốn là một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và hiếu học, nơi đã sản sinh ra nhiều bậc chí sĩ, anh hùng của dân tộc. Cha của Hà Huy Tập là cụ Hà Huy Lương, một thầy giáo nghèo nhưng có tinh thần khí tiết và tâm huyết truyền thụ chữ nghĩa cho con em nhân dân lao động. Chính môi trường gia đình và quê hương ấy đã hình thành ở Hà Huy Tập từ thuở niên thiếu một tâm hồn nhạy cảm với nỗi đau của dân tộc và khát vọng giải phóng đất nước. Từ nhỏ, Hà Huy Tập đã bộc lộ năng lực học tập xuất sắc. Ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó ra Huế học trường Quốc học - một trong những cơ sở giáo dục bậc nhất của Việt Nam thời kỳ đó. Chính tại nơi đây, ông được tiếp xúc với những tư tưởng dân chủ, tiến bộ và bước đầu hình thành nhận thức cách mạng. Sau khi tốt nghiệp, ông làm giáo viên tại một số trường ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Nghề dạy học đã giúp ông sớm gắn bó với đời sống của nhân dân lao động và càng thêm nung nấu ý chí đấu tranh.
Con đường đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cộng sản quốc tế. Năm 1928, Hà Huy Tập gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, bắt đầu con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Năm 1929, ông sang Quảng Châu (Trung Quốc), tiếp tục học tập và hoạt động trong phong trào cách mạng. Đây là giai đoạn ông được tiếp xúc và nghiên cứu sâu hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin và lý thuyết cách mạng vô sản. Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời cách mạng của Hà Huy Tập là khi ông được cử sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông ở Moskva từ năm 1929 đến năm 1932. Đây là ngôi trường đại học đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc trên toàn thế giới. Tại đây, Hà Huy Tập không chỉ được tiếp thu một cách hệ thống triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học mà còn trực tiếp trau dồi kỹ năng tổ chức, lãnh đạo cách mạng trong thực tiễn phong trào công nhân và cộng sản quốc tế.
Những năm học tập tại Moskva đã tôi rèn, hun đúc Hà Huy Tập từ một thanh niên yêu nước trở thành một người cộng sản được trang bị vũ khí lý luận vững chắc. Ông trở thành một trong số ít những cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ được đào tạo bài bản về lý luận Mác - Lênin tại trung tâm đào tạo cách mạng quốc tế hàng đầu thế giới.
Những đóng góp của Hà Huy Tập vào kho tàng lý luận của Đảng. Ông không chỉ là nhà hoạt động thực tiễn mà còn là một nhà lý luận xuất sắc, có đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1932-1933, trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, ông đã soạn thảo và hoàn thành tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương” - một công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị, lần đầu tiên tổng kết một cách hệ thống quá trình hình thành và phát triển của phong trào cộng sản tại Đông Dương. Ông còn là tác giả của nhiều bài báo, báo cáo lý luận đăng trên các tờ báo cách mạng và gửi về Quốc tế Cộng sản. Những tác phẩm của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc lý luận Mác - Lênin, khả năng phân tích sắc bén tình hình kinh tế - chính trị- xã hội của Đông Dương, và phương pháp vận dụng sáng tạo lý luận vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng thuộc địa.
Hà Huy Tập - Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Đông Dương (1936 -1938). Tháng 7 năm 1936, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông trở thành Tổng Bí thư rất trẻ khi mới có 30 tuổi. Dưới sự lãnh đạo của Hà Huy Tập, Đảng đã triển khai phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tập hợp đông đảo các tầng lớp Nhân dân đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Đây là giai đoạn Đảng có điều kiện hoạt động công khai và bán công khai, phát triển mạnh lực lượng quần chúng, xây dựng cơ sở đảng, đào tạo cán bộ và tuyên truyền lý tưởng cộng sản đến đông đảo nhân dân lao động. Thành tựu lớn nhất trong giai đoạn này là Đảng đã tập hợp được hàng triệu quần chúng vào phong trào cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho bước phát triển tiếp theo.
Tấm gương khí tiết bất khuất. Năm 1938, trước làn sóng đàn áp của thực dân Pháp, Hà Huy Tập bị bắt lần thứ hai (trước đó ông đã từng bị địch bắt và tù đày) và bị kết án nhiều năm tù. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa Hà Huy Tập ra trường bắn tại Hóc Môn, Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh) cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai. Trước pháp trường, Hà Huy Tập đã thể hiện khí tiết của người cộng sản kiên trung. Khi được hỏi có muốn xin ân xá không, ông trả lời dứt khoát: “Không! Lý tưởng của tôi là phục vụ Nhân dân và Tổ quốc, không có gì phải hối tiếc”. Ông hy sinh khi mới 35 tuổi, để lại tấm gương sáng ngời về đức hy sinh và khí tiết cách mạng.
2. Tổng Bí thư Hà Huy Tập và những bài học để lại còn vẹn nguyên giá trị
Đồng chí Hà Huy Tập - Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Đông Dương- là một trong những tấm gương sáng ngời về tinh thần học tập, lý luận gắn với thực tiễn, đạo đức cách mạng và khí tiết bất khuất trong lịch sử phong trào cộng sản và cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Cuộc đời của ông tuy chỉ vỏn vẹn 35 năm, nhưng những gì ông cống hiến cho sự nghiệp cách mạng - từ những trang lý luận công phu đến giây phút hiên ngang trước pháp trường - đã khắc sâu vào lịch sử Đảng như một dấu ấn bất tử. Cuộc đời hoạt động cách mạng và sự hy sinh anh dũng của Hà Huy Tập đã trở thành biểu tượng cao đẹp của lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và ý chí kiên cường. Từ tấm gương của Người, chúng ta học được những bài học còn vẹn nguyên giá trị:
Tinh thần học tập suốt đời, coi lý luận là vũ khí của người cách mạng: Điểm nổi bật và nhất quán trong cuộc đời Hà Huy Tập là tinh thần học tập không ngừng, không nghỉ. Ngay cả trong những điều kiện hoạt động bí mật, thiếu thốn, nguy hiểm, ông vẫn dành thời gian nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, theo dõi tình hình phong trào cộng sản quốc tế và tình hình trong nước để bổ sung, làm giàu thêm vốn lý luận của mình. Ông quan niệm rằng lý luận không phải là sách vở trừu tượng xa rời thực tiễn, mà là vũ khí sắc bén nhất của người cộng sản trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc. Chính nhờ nền tảng lý luận vững chắc được tích lũy qua nhiều năm học tập nghiêm túc, Hà Huy Tập đã có khả năng phân tích sâu sắc những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội thuộc địa Đông Dương, vạch ra đường lối đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Đây là bài học đầu tiên và quan trọng nhất mà ông để lại cho các thế hệ cán bộ, đảng viên sau này.
Phong cách lý luận gắn liền với thực tiễn: Hà Huy Tập không bao giờ hài lòng với việc thuộc lòng những lý luận một cách máy móc, giáo điều. Đặc điểm nổi bật trong tư duy của ông là luôn gắn lý luận với phân tích thực tiễn tình hình cụ thể của phong trào cách mạng Đông Dương. Trong các báo cáo gửi lên Quốc tế Cộng sản, ông luôn bắt đầu từ phân tích thực tiễn kinh tế - xã hội - chính trị của Đông Dương, từ đó vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin để đề xuất đường lối, chủ trương phù hợp. Phong cách lý luận của ông thể hiện rõ ràng quan điểm của chủ nghĩa Mác về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: lý luận không có thực tiễn thì trống rỗng, thực tiễn không có lý luận thì mù quáng. Ông từng viết: “Người cách mạng không học lý luận thì như người cầm gươm mà mắt không thấy đường đi…”. Đây là di sản tư tưởng có giá trị và còn sống mãi với thời gian.
Đạo đức cách mạng trong sáng, tận tụy vì sự nghiệp chung: Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hà Huy Tập luôn nêu cao đạo đức của người cộng sản chân chính. Ông sống giản dị, thanh bạch, đặt lợi ích của cách mạng lên trên lợi ích cá nhân. Dù giữ cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, ông không bao giờ đặt đặc quyền, đặc lợi cho bản thân hay gia đình. Ngay trong chốn lao tù, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, viết bài và liên lạc với bên ngoài để chỉ đạo phong trào cách mạng. Ông cũng là người có đức tính thẳng thắn, trung thực khi đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Đảng. Ông không ngại bảo vệ ý kiến đúng đắn và phê phán những quan điểm sai lệch, kể cả khi điều đó có thể gây khó khăn cho bản thân. Đây là phẩm chất đặc biệt quý giá mà mỗi người cán bộ, Đảng viên luôn cần học hỏi, noi gương Hà Huy Tập.
Tinh thần quốc tế vô sản và tầm nhìn chiến lược: Hà Huy Tập là người sớm nhận thức được tầm quan trọng của phong trào cộng sản quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Ông liên tục duy trì liên lạc với Quốc tế Cộng sản, tham gia các hoạt động của phong trào cộng sản khu vực và quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ và học hỏi kinh nghiệm từ phong trào cách mạng thế giới. Tầm nhìn quốc tế này giúp ông không bị bó hẹp trong tầm nhìn cục bộ, địa phương, mà luôn đặt cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương trong bối cảnh lịch sử toàn cầu.
3. Từ tấm gương của Tổng Bí thư Hà Huy Tập suy nghĩ về trách nhiệm của giảng viên Trường Chính trị Tô Hiệu
Trường Chính trị Tô Hiệu hiện nay được thành lập từ sự hợp nhất Trường Chính trị Tô Hiệu (Hải Phòng) và Trường Chính trị tỉnh Hải Dương là cơ sở duy nhất thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, lãnh đạo quản lý của thành phố Hải Phòng. Với vai trò, sứ mệnh của mình, các đồng chí cán bộ, giảng viên Nhà trường không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là nhân tố quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý xác định rõ: Cần xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có trình độ chuyên môn cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng và phong cách sư phạm chuẩn mực. Trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc đấu tranh tư tưởng ngày càng phức tạp, vai trò của giảng viên trường Đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Từ tấm gương của Tổng Bí thư Hà Huy Tập, chúng ta suy nghĩ và nhận thấy rõ hơn về trách nhiệm của người giảng viên:
Một là: Cần không ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận. Tấm gương học tập không ngừng của Tổng Bí thư Hà Huy Tập - từ học tiếng Nga, nghiên cứu triết học Mác - Lênin, đến nghiên cứu lịch sử phong trào cộng sản quốc tế… - là bài học đầu tiên và căn bản cho mỗi giảng viên nhà trường hôm nay. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển vũ bão, tình hình thế giới và trong nước thay đổi nhanh chóng, mỗi người giảng viên không chỉ giảng dạy dựa trên những kiến thức “cũ” hay những bài giảng đã chuẩn bị từ nhiều năm trước. Phải thực hiện nghiêm túc việc tự học, tự nghiên cứu với tinh thần “học tập suốt đời”; thường xuyên cập nhật những quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng nội dung bài học.
Hai là: Gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực tiễn để bổ sung cho bài giảng không chỉ đúng mà còn có tính thuyết phục và sinh động. Phong cách lý luận gắn với thực tiễn của Hà Huy Tập nhắc nhở mỗi người giảng viên phải tránh tình trạng giảng dạy theo kiểu “sách vở” khô cứng, xa rời thực tế. Đối tượng người học trong trường Chính trị Tô Hiệu nói riêng và hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh, thành phố nói chung phần lớn là các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, do đó, người giảng viên không chỉ cần trang bị cho họ hệ thống lý luận cần thiết mà điều quan trọng hơn là giúp học viên hiểu về bản chất, biết vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của đơn vị, địa phương. Để thực hiện được điều đó, giảng viên cần có sự liên hệ chặt chẽ với thực tiễn, dùng thực tiễn để minh họa và kiểm chứng lý luận; tổ chức thảo luận, liên hệ thực tế; giúp học viên hình thành tư duy biện chứng, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề theo phương pháp khoa học. Đây chính là sự kế thừa phong cách lý luận của đồng chí Hà Huy Tập trong điều kiện lịch sử mới.
Ba là: Giữ vững bản lĩnh chính trị và đạo đức người thầy. Đạo đức trong sáng và bản lĩnh chính trị vững vàng của Tổng Bí thư Hà Huy Tập - người đã không dao động ngay cả trước pháp trường - là hình ảnh đẹp đẽ sáng ngời về nhân cách. Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, đòi hỏi mỗi người giảng viên cần rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, không bị lung lay, dao động trước những thông tin giả mạo hay các luận điểm sai trái, thù địch, đồng thời, luôn giữ vững đạo đức, phẩm chất người giáo viên trường Đảng. Chính sự mẫu mực trong lối sống, sự tận tụy với công việc giảng dạy… là những bài học mà Tổng Bí thư Hà Huy Tập để lại còn nguyên giá trị đối với mỗi giảng viên hôm nay. Một bài giảng có thể thuyết phục về lý trí, nhưng chính nhân cách và đạo đức của người thầy mới tác động sâu sắc và bền vững đến tâm tư, tình cảm và hành động của học viên.
Bốn là: Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hà Huy Tập không phải là người thụ động, chỉ tiếp thu lý luận, ông luôn chủ động đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Đảng, phê phán những tư tưởng lệch lạc, bảo vệ đường lối đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tinh thần đó cần được phát huy trong đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Chính trị Tô Hiệu, khi Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xác định rõ đây là một nhiệm vụ cấp bách. Mỗi người cán bộ, giảng viên cần chủ động nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh phản bác một cách có căn cứ khoa học, sắc bén và thuyết phục những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận những thành tựu của cách mạng Việt Nam. Cần xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị mang tính đặc thù và quan trọng của đội ngũ giảng viên trường Đảng.
Bài học thứ năm: Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ song hành với giảng dạy. Hà Huy Tập không chỉ là nhà nghiên cứu lý luận nghiêm túc mà ông còn là người thực hành cách mạng, để lại những công trình có giá trị khoa học lâu dài. Điều đó nhắc nhở mỗi người giảng viên trường Chính trị Tô Hiệu không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức có sẵn, mà cần tích cực nghiên cứu khoa học để đóng góp vào kho tàng lý luận của Đảng. Mỗi giảng viên cần có kế hoạch nghiên cứu khoa học rõ ràng, gắn với chuyên môn giảng dạy; tích cực công bố kết quả nghiên cứu; tham gia các hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn về khoa học và cụ thể hóa kết quả nghiên cứu trong nội dung bài giảng, giúp bài học trở nên sinh động, có chiều sâu. Điều này cũng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn mới.
Trong lịch sử xây dựng và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, có những người con ưu tú đã hiến dâng cả cuộc đời, xương máu cho lý tưởng cộng sản và nền độc lập dân tộc. Đồng chí Hà Huy Tập là một trong những hình tượng tiêu biểu đó - một nhà lý luận xuất sắc, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một người học trò trung thành của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của các thế hệ lãnh đạo tiên phong như đồng chí Hà Huy Tập mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cách mạng nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của đồng chí Hà Huy Tập (24/4/1906) và tưởng nhớ ngày ông anh dũng hy sinh (28/8/1941), không chỉ là sự tri ân một nhà cách mạng tiền bối mà còn là dịp để mỗi người chúng ta cùng nhìn lại, suy nghĩ về trách nhiệm của mình, qua đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới./.
ThS. Phạm Thị Liên,
GVC Khoa Nhà nước và Pháp luật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1974), Hà Huy Tập - Người cộng sản kiên cường, NXB Sự thật, Hà Nội.
[2] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
[3] Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý.
[4] Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
[5] Nguyễn Thành (2002), Hà Huy Tập - Tiểu sử và tác phẩm, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[6] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.