Đặng Thị Mai
Khoa Lý luận cơ sở
Tự do là khát vọng của nhân loại, là mục đích mà con người đấu tranh để đạt được trong suốt quá trình tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, tự do được tìm hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau và việc vận dụng khái niệm tự do từ góc độ nghiên cứu lý luận đến thực tiễn cũng có nhiều sự khác biệt.
Với quan điểm tự do chính là khả năng của mỗi con người, nhà triết học John Locke cho rằng: “Con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào". G.W Friedrich Hegel quan niệm: “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”. Trong chính trị, không có quyền tự do cá nhân nào được phép đứng trên hoặc chà đạp lên chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước bởi Nhà nước thực hiện quyền dân tộc tự quyết nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của đất nước ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Nhà nước có quyền áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có xây dựng và thực thi pháp luật để bảo vệ chế độ của mình. Những hành vi chống lại chế độ chính trị và nhà nước hiện hữu là vi phạm quy luật, tất yếu sẽ mất tự do.
Vì thế, cái tất yếu trong nhận thức được hiểu là toàn bộ các quy luật (tự nhiên, xã hội và tư duy). Tự do là nhận thức và thực hiện theo quy luật. Con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện cái tất yếu bao nhiêu thì càng có tự do bấy nhiêu nghĩa là tự do từ một trạng thái bản năng trở thành tự do trong mối tương quan với cái tất yếu. Nhận thức được quy luật đến đâu thì hành động tự do được bảo đảm đến đấy; vi phạm quy luật, tất yếu sẽ mất tự do. Điều đó cho thấy, nhận thức được cái tất yếu trở thành cột mốc của ranh giới giữa trạng thái tự do và mất tự do. Nhận thức được cái tất yếu, con người sẽ không nhân danh tự do để thực hiện những hành vi gây mâu thuẫn phá hại, kìm hãm sự phát triển của cá nhân và của cộng đồng mà đi đến sự phát triển thực thụ, tự do trong hoạt động không để cá nhân hoặc tổ chức phải can thiệp vào hoạt động đó. Ngược lại, cộng đồng hoàn toàn tôn trọng tự do của cá nhân, nhưng với một tập hợp cá nhân thành cộng đồng thì vẫn phải tuân thủ theo một nguyên tắc dung hòa sao cho quyền tự do cá nhân không bị triệt tiêu, sau khi nhượng lại một phần tự do của mình cho cộng đồng để vận hành đúng chức năng mà cộng đồng phải tồn tại. Trong xã hội, hiện tượng này cũng diễn ra, như một tất yếu có tính văn hóa, trong đó công dân thông qua Nhà nước đặt ra luật pháp (cái tất yếu) và ủy quyền cho Nhà nước làm trọng tài để mọi công dân hoạt động theo các quy tắc xử sự chung nhằm phát huy quyền tự do cá nhân, không phương hại đến tự do của người khác và của cả cộng đồng.
Để có tự do cho tất cả mọi người, tự do của người này không làm ảnh hưởng đến tự do của người khác, Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền với hệ thống pháp luật bao trùm và điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng và tuân theo pháp luật. Tất cả những hành vi của tổ chức hoặc cá nhân nếu vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Nhìn lại thực tế thời gian qua, có những hành vi theo ý kiến chủ quan được cho là tự do nhưng thực chất đã vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng như Ngọc Trinh, Hải Idol… Ngoài ra, nhiều kẻ lầm tưởng mình đang thực hiện quyền tự do cá nhân, tự cho là mình giỏi giang, hiểu biết, thể hiện mình như Nguyễn Phương Hằng, Dũng Salom… đã bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Thời gian qua, một số đối tượng với các nick facebook như: Trần Duy Chiến, Trung Kim Hoàng, Nhật ký yêu nước… đã tung nhiều video được dựng lại bằng công nghệ AI, thay đổi giọng nói, lồng thêm lời bình mang tính quy chụp như “hà khắc”, “lạm quyền”, “thiếu nhân văn” đối với cảnh sát giao thông, thậm chí sử dụng công nghệ deepfake để ghép khuôn mặt cán bộ vào tình huống hoàn toàn không có thật kèm theo tiêu đề giật gân, tạo hiệu ứng tâm lý đám đông, khiến người xem hiểu sai bản chất vụ việc. Bên cạnh đó, nhiều kẻ đội lốt dân chủ, tự do mang hận thù với cách mạng trở thành những kẻ chống đối chính quyền, phản bội nhân dân, phá hoại quê hương đất nước bị truy tố về các tội như: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền; tội phá rối an ninh, tội phản bội Tổ Quốc, tội khủng bố như: Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Nguyễn Ngọc Anh, Trần Thị Xuân...Các đối tượng đó kéo theo những người bị ngộ độc thông tin từ các thế lực thù địch hoặc bất mãn trong cuộc sống hoặc mơ hồ mất cảnh giác, bị dụ dỗ, lôi kéo dần trở thành những người chống đối và đi vào con đường phạm tội. Đặc biệt, khi cuộc bầu cử sắp diễn ra, các đối tượng xuyên tạc về quy trình bầu cử, bóp méo bản chất của chế độ dân chủ ở Việt Nam, lợi dụng công nghệ truyền thông hiện đại để sản xuất và phát tán thông tin giả mạo, cắt ghép hình ảnh, video, tạo dựng các nội dung sai sự thật liên quan đến công tác nhân sự hoặc quy trình hiệp thương.
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, Việt Nam trở thành một trong các quốc gia phát triển nhanh nhất về công nghệ thông tin, hiện đứng trong top đầu thế giới về hạ tầng công nghệ thông tin, tỷ lệ dân số sử dụng điện thoại thông minh và mạng xã hội. Khi có mạng xã hội, mọi người đều tự do đưa thông tin mình mong muốn lên mạng. Bên cạnh đa số người có nhận thức, có văn hóa thì không ít những “anh hùng bàn phím” vì muốn nổi tiếng, muốn gây sự chú ý, câu like bán hàng hoặc nhiều mục đích cá nhân khác, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử, lãnh tụ…đã đưa những thứ độc hại làm ô nhiễm không gian mạng, xâm hại cá nhân, tổ chức và cả nguồn cội, Tổ quốc mình. Trên mạng xã hội, nhiều người dùng thường cho mình cái quyền tự do làm tất cả những gì mình thích vì đó là thế giới ảo như thoải mái chửi bới, vu khống, lăng mạ cá nhân, tổ chức, bịa chuyện, chia sẻ những thông tin chưa kiểm chứng, đưa thông tin chống Đảng, nhà nước, hình ảnh phản cảm, đồi truỵ, lừa đảo, đánh bạc, đánh cắp thông tin, dữ liệu… Nhiều vụ án nghiêm trọng đã xảy ra do sự ô nhiễm thông tin trên không gian mạng. Nhiều người bị vu khống, lăng mạ dẫn đến trầm cảm, tự tử. Nhiều tổ chức bị xâm hại; nhiều nhãn hàng, thương hiệu bị đánh sập, thậm chí danh dự, uy tín quốc gia bị ảnh hưởng, hợp tác đầu tư, phát triển kinh tế, văn hóa bị kéo lùi… khó mà đo đếm được những thiệt hại; nhiều anh hùng bàn phím cũng đã “lãnh đủ” kể cả bằng “luật rừng” và luật pháp…
Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc, Điều 29 nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Theo quy định tại Điều 19 Công ước ICCPR năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối. Tại Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn mà không bị xem là vi hiến. Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự)… Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng Internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Như vậy, khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người. Việc thực hiện các quyền này phải trong khuôn khổ pháp luật, không thể vu khống, xúc phạm ai cũng được bởi Điều 21 của Hiến pháp nêu rõ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình”.
Để đảm bảo quyền tự do, lợi ích, tạo hành lang pháp lý của của cá nhân và tổ chức, Luật An ninh mạng của Việt Nam ra đời năm 2018, có hiệu lực từ 01/01/2019. Nhận thức rõ và thực hiện Luật An ninh mạng nói riêng cũng như hệ thống pháp luật nói chung giống như người điều khiển phương tiện thuộc đường và đi đúng đường, tới đích an toàn và nhanh nhất, không đâm vào chướng ngại gây họa cho mình và người khác. Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia; xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật sau:
Một là, hành vi chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm sử dụng không gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ như thông tin kích động lôi kéo tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, gây mất ổn định về an ninh trật tự...
Hai là, các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;
Ba là, các hành vi phát tán thông tin gây hại cho tổ chức, cá nhân, gồm: thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
Bốn là, các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.
Năm là, các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng và liên quan như sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử...
Rõ ràng không thể cho rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam là mơ hồ nhằm đối phó với những người bất đồng chính kiến, là những quy định “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ” như phát ngôn của một số kẻ lợi dụng chiêu bài dân chủ. Luật An ninh mạng không có quy định nào làm ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của con người được ghi trong Hiến pháp; chẳng những không cản trở mà còn bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức hoạt động bình thường, đúng pháp luật; phù hợp với các giá trị văn minh pháp lý và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Chỉ các hành vi chống phá đất nước, vi phạm pháp luật, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân mới bị đấu tranh, xử lý.
Như vậy, tự do là một trong những giá trị quan trọng nhất của con người và cũng là một trong những yếu tố cốt lõi thuộc phạm trù quyền con người. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đồng nghĩa với việc xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do tối đa của con người, đồng thời đảm bảo trật tự, ổn định xã hội trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân mà bản thân nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật. Quyền tự do của công dân trong xã hội luôn gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ nhằm đảm bảo nền hòa bình, độc lập và tự chủ của Tổ quốc. Không bao giờ tồn tại một thứ “tự do” vô chính phủ, “tự do” vượt lên trên khuôn khổ pháp luật và cũng chẳng có một quốc gia nào chấp nhận những kẻ chống phá đất nước “tự do hoạt động”, “tự do bôi nhọ lịch sử”./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, H.2025
2. Lưu Đức Quang, Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2016
3. Nguyễn Thị Kim Ngân, Chu Mạnh Hùng, Quyền con người trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, H. 2023
4. Robert Greene, Những quy luật về bản chất con người, Nhà xuất bản trẻ, H. 2020