Tư tưởng của Ph.Ăngghen về chuyên chính, chuyên chính vô sản và vận dụng ở Việt Nam hiện nay

Cập nhật: 09/03/2026 01:34

                                                               ThS. Nguyễn Tiến Dũng
Giảng viên chính,
 Khoa Lý luận cơ sở

Trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phạm trù “chuyên chính vô sản” được dùng khá phổ biến để chỉ hình thức nhà nước quá độ, nơi giai cấp công nhân nắm quyền lực, thực hiện dân chủ với nhân dân lao động và trấn áp các lực lượng thù địch, phản cách mạng. Trải qua thời gian và lịch sử, phạm trù “chuyên chính vô sản” đã  không ngừng được bổ sung và phát triển đúng thực chất và phù hợp với thực tiễn.

Ở Việt Nam, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (Khoá VI), phạm trù “chuyên chính vô sản” đã lần đầu tiên được thay thế bằng phạm trù “hệ thống chính trị”. Mặc dù vậy, tư tưởng về “chuyên chính vô sản” vẫn giữ nguyên giá trị thời đại; là cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân trong kỷ nguyên mới.

1. Tư tưởng của Ph.Ăngghen về chuyên chính và chuyên chính vô sản

Tư tưởng về chuyên chính và chuyên chính vô sản của Ph.Ăngghen, do điều kiện lịch sử và thực tiễn của Đảng Cộng sản, phong trào công nhân ở thời kỳ đầu, nên mới được thể hiện trên những nét cơ bản và gắn liền với tư tưởng của C.Mác về vấn đề này, tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, chuyên chính là sản phẩm chủ yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, của đấu tranh giai cấp và gắn liền với một giai cấp thống trị, một nhà nước nhất định.

Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, viết năm 1884, Ph.Ăngghen đã luận chứng quá trình tan dã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá trình hình thành của xã hội có giai cấp, dựa trên chế độ tư hữu. Ông cũng vạch rõ những đặc trưng của xã hội đó, giải thích sự phát triển của các quan hệ gia đình trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau; chỉ ra nguồn gốc và bản chất của nhà nước, chứng minh sự tất yếu diệt vong của nhà nước và xã hội có giai cấp nói chung. Theo đó, chỉ khi lịch sử nhân loại xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, thì mới có sự thống trị của giai cấp này đối với một giai cấp khác thông qua nhà nước với các công cụ luật pháp, bộ máy cưỡng chế… Và, chuyên chính là phương tiện công cụ bảo đảm sự thống trị của giai cấp cầm quyền, nắm giữ quyền lực nhà nước, thực hiện các hoạt động của giai cấp thống trị trong quản lý, cải tạo và phát triển xã hội.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của đại công nghiệp là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Thông qua đại công nghiệp, giai cấp tư sản đã dần thiết lập chuyên chính tư sản, thiết lập sự thống trị của nó trên toàn xã hội. Và, cũng như vậy, chuyên chính vô sản, hay sự thống trị của giai cấp công nhân cũng là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, của nền đại công nghiệp ngày càng hiện đại; đồng thời, đây cũng là lực lượng thiết lập nền chuyên chính cuối cùng khi qua quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, sẽ dần xóa bỏ mọi sự bóc lột, xóa bỏ giai cấp và nhà nước với tư cách công cụ thể hiện và thực hiện chuyên chính của một giai cấp. Theo Ăngghen, “ở những nơi mà đại công nghiệp thay thế cho công trường thủ công thì cách mạng công nghiệp làm tăng thêm rất nhiều của cải và thế  lực của giai cấp tư sản, làm cho nó trở thành giai cấp thứ nhất trong nước, nắm được chính quyền trong tay và gạt bỏ được những tầng lớp trước đó vẫn giữ quyền thống trị: Tầng lớp quý tộc, thị dân phường hội và giới quân chủ chuyên chế, đại biểu cho hai tầng lớp đó” [1].

Thứ hai, bạo lực cách mạng là một trong hai chức năng cơ bản của nhà nước chuyên chính vô sản.

Nhà nước xuất hiện do nhu cầu kiềm chế những đối lập giai cấp, từ chính những xung đột giai cấp, nên đó thường là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất; giai cấp thống trị về kinh tế, đồng thời cũng thống trị về chính trị và xã hội thông qua các phương tiện của nhà nước để đàn áp và bóc lột giai cấp bị trị. Song, chuyên chính giai cấp hay chuyên chính của nhà nước không chỉ có chức năng cơ bản là bạo lực, mà còn có nhiều chức năng khác nhằm thực hiện việc tổ chức và xây dựng xã hội mới “theo hình ảnh”, “bản chất” của nó.

Mọi giai cấp thống trị, khi thiết lập nền chuyên chính của mình, ngoài việc dùng bạo lực cách mạng để xoá bỏ bộ máy nhà nước cũ, nền chuyên chính trước đây, còn phải tổ chức, xây dựng một xã hội mới. Nhà nước chiếm hữu nô lệ phát triển phương thức sản xuất chiếm hữu lấy nô lệ làm đối tượng trung tâm của sự chiếm hữu, của sự bóc lột; nhà nước phong kiến lấy việc bóc lột địa tô từ nông nô làm cơ sở cho sự tồn tại của xã hội mình; nhà nước tư sản với nền đại công nghiệp và chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển xã hội dựa trên việc chiếm hữu giá trị thặng dư qua bóc lột giai cấp công nhân trong nền sản xuất xã hội. Nhà nước chuyên chính vô sản với chế độ công hữu các tư liệu sản xuất của xã hội làm đích hướng tới, ngày càng tăng cường thực hiện dân chủ, xóa bỏ dần và triệt để tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp, dần xoá bỏ nhà nước với tư cách một hệ thống chuyên chính của một giai cấp đối với toàn xã hội.

Thứ ba, chuyên chính vô sản là sản phẩm của cách mạng vô sản trong quá trình đấu tranh vì dân chủ, giành và giữ quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, gắn với sự thống trị của nhà nước vô sản và giai cấp công nhân.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), C.Mác và Ph Ănghen cho rằng, sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự lớn mạnh của giai cấp tư sản cũng khiến cho một lực lượng đối lập với nó là giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) phát triển và ngày càng lớn mạnh. Đây chính là giai cấp thực sự cách mạng, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa với quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng tăng, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.

Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản chuyển từ tự phát sang tự giác với tính cách là một cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng tăng. Tính chất đấu tranh từ đấu tranh kinh tế đã chuyển thành những cuộc đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - với cương lĩnh tiên phong và khoa học. Và, “…mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”[2].

Thứ tư, chuyên chính vô sản là bước quá độ để xóa bỏ áp bức, bóc lột giai cấp, xoá bỏ giai cấp và nhà nước.

Việc lật đổ giai cấp tư sản, giành lấy dân chủ, nhà nước, thiết lập nền chuyên chính vô sản chỉ là bước đầu tiên trong quá trình cải tạo xã hội cũ, thiết lập và xây dựng mới với mục tiêu cao nhất là xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu, xoá bỏ mọi sự khác biệt giai cấp, xoá bỏ nhà nước với tư cách công cụ chuyên chính của giai cấp này đối với giai cấp khác. Nền chuyên chính vô sản, nhà nước vô sản mang tính dân chủ thực sự dựa trên chính cơ sở xã hội rộng rãi của nó, đó là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Do vậy, chuyên chính vô sản không phải là sự thống trị đặc quyền của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội, mà chính là chính quyền thực sự của Nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân mà còn bảo vệ lợi ích của tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động khác. Nói đến chuyên chính ở đây chỉ là sự khẳng định chuyên chính của cả hệ thống chính trị đối với thiểu số giai cấp bóc lột, một bộ phận đi ngược lại lợi ích của Nhân dân lao động, cũng như của toàn xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong quá trình phát triển và toàn bộ nền sản xuất đã thuộc về xã hội thì quyền lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó; quyền lực chính trị - bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác sẽ cũng mất đi. Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, những người vô sản nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp và thông qua con đường cách mạng để “trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp” [3].

Thứ năm, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chức năng chuyên chính của nhà nước vô sản ngày càng giảm nhằm tăng cường chức năng tổ chức và xây dựng

Với mục tiêu nói trên, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chức năng bạo lực trong chuyên chính vô sản ngày càng giảm đi, song hành với sự ngày càng gia tăng của chức năng tổ chức và xây dựng xã hội mới, với những điều kiện và cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng mới, tiến bộ hơn so với trong chủ nghĩa tư bản. Trong những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, do Ph.Ăngghen viết năm 1847, khi trả lời câu hỏi thứ 18: “Cuộc cách mạng sẽ diễn biến như thế nào?”, Ph.Ăngghen đã khẳng định, chế độ dân chủ chuyên chính vô sản sẽ trở nên vô ích nếu nó không được dùng ngay ngay lập tức làm phương tiện để thi hành những biện pháp rộng rãi trực tiếp đánh vào chế độ tư hữu và bảo đảm sự tồn tại của giai cấp vô sản” [4].

Công cụ quan trọng trong thực hiện quyền lực chính trị là nhà nước, và đây cũng chính là bộ phận quan trọng nhất trong các hệ thống chuyên chính. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị về kinh tế dùng để áp bức các giai cấp khác trong xã hội, duy trì sự thống trị chính trị và bảo vệ địa vị, lợi ích kinh tế của mình. Đây chính là chức năng bạo lực của nhà nước. Tuy nhiên, các ông cũng đánh giá cao các chức năng khác của nhà nước, như: Chăm lo các công việc chung của xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội, chống lại những sự vi phạm ở trong nước và của nước ngoài kiềm chế những đối lập giai cấp nhằm tránh những xung đột có thể dẫn tới sự tiêu vong của xã hội; là đại diện trung gian, giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp. Đối với nhà nước vô sản, các ông cho rằng, đây là nhà nước của tuyệt đại đa số nhân dân chống lại thiểu số áp bức, bóc lột; là nhà nước dân chủ nhất do bản chất của nó. Trong nhà nước này, chức năng bạo lực là tất yếu trong giai đoạn giành, giữ và bảo vệ chính quyền; còn chức năng chủ yếu, thường xuyên và lâu dài của nó là cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

2. Thực hiện chuyên chính vô sản ở Việt Nam hiện nay

Trước khi giành được chính quyền (1945), từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân Việt Nam bị đô hộ, áp bức; dân tộc bị phụ thuộc, chưa được công nhận, cũng như chưa có tên trên bản đồ thế giới, nhu cầu cấp bách của dân tộc là xoá bỏ áp bức, bóc lột, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, Nhân dân được tự do, bình đẳng, có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Với việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã đồng lòng vùng lên thực hiện thành công cuộc Cách mạng tháng Tám (năm 1945), xoá bỏ xiềng xích của bè lũ thực dân, phong kiến, lập lên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, được các quốc gia  trên thế giới công nhận; Nhân dân ta từ thân phận người dân mất nước, bị ách “một cổ hai tròng” trở thành người chủ của một quốc gia độc lập, tự mình tổ chức xây dựng xã hội mới.

Nhà nước công nông mới, non trẻ vừa ra đời đã vấp phải sự chống phá của các thế lực thù địch và sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chín năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975), thực hiện thống nhất nước nhà là một nỗ lực to lớn của dân tộc và Nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh bảo vệ và giữ vững quyền độc lập cho dân tộc, sự bình yên và hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân. Vai trò của chính quyền nhân dân rất quan trọng trong việc thực hiện chuyên chính với kẻ thù trong 30 năm đấu tranh thống nhất nước nhà và trong công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới ở miền Bắc từ năm 1954. Đây thực chất là việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: 1) Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; 2) Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.

Hai nhiệm vụ trên có vai trò rất quan trọng, liên quan mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau: trong đó, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ tất yếu nhằm xây dựng miền Bắc ngày càng phát triển về mọi mặt, tạo cơ sở vững chắc cho cách mạng giải phòng miền Nam. Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà; đồng thời, đấu tranh thống nhất nước nhà tạo điều kiện để tổ chức xây dựng xã hội chủ nghĩa trên cả nước.

Vai trò của nhà nước, của chuyên chính vô sản đã được Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) khẳng định: Nhà nước công nông mới, nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên cơ sở liên minh công nông và được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, phải thực hành chuyên chính với bọn phản cách mạng, nghiêm trị những kẻ chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Thắng lợi của cuộc Tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; đưa Tổ quốc ta độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ đây, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm đem lại cho Nhân dân ta quyền làm chủ đầy đủ, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc, đất nước càng giàu mạnh.

Những thành công và hạn chế trong giai đoạn xây dưng chủ nghĩa xã hội từ sau năm 1975 đến trước đổi mới nói chung, trong thực hiện chuyên chính vô sản nói riêng đã được Đảng ta đánh giá nghiêm túc, khách quan tại Đại hội lần thứ VI. Đại hội khẳng định, Việt Nam đang ở thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng một chế độ xã hội mới hoàn toàn về chất; đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp phức tạp, đấu tranh giữa hai con đường, nên phải nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của Nhân dân.

Quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân lao động là một trong những bài học kinh nghiệm lớn đầu tiên được Đảng tổng kết. Hơn nữa, nhằm đáp ứng nhu cầu và thực tiễn thời đại, Hội nghị Trung ương 6, khoá VI (tháng 3 năm 1989), Đảng ta đã chính thức sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm chuyên chính vô sản. Khái niệm “hệ thống chính trị” được hiểu là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra những quyết định chính trị.

Với sự thay đổi khái niệm này, Đảng ta đã làm rõ cấu trúc của hệ thống chính trị (Đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của Nhân dân); vị trí, vai trò và tầm quan trọng của từng bộ phận trong hệ thống chính trị. Đảng chính trị khi trở thành đảng cầm quyền có vai trò và vị trí rất quan trọng trong lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội. Nhà nước được ví như  trung tâm của hệ thống chính trị, là tổ chức quan trọng nhất trong việc thực thi quyền lực chính trị do có hệ thống luật pháp buộc mọi người phải tuân thủ, có bộ máy cưỡng chế đặc biệt như quân đội, cảnh sát, toàn án, nhà tù… để đảm bảo thực hiện. Các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của đảng cầm quyền, có vai trò rất quan trọng trong thực thi quyền lực chính trị, được nhà nước bảo trợ, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nhưng mang tính tự nguyện, tự chủ và tự quyết, có khả năng lôi cuốn, động viên nhân dân tham gia vào đời sống chính trị, đảm nhận những công việc mà Nhà nước không làm được hoặc kém hiệu quả.

Từ đây, hệ thống chính trị đã giảm dần chức năng bạo lực cách mạng, tăng cường các chức năng tổ chức và xây dựng xã hội mới. Cương lĩnh năm 1991 nhấn mạnh: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [5]. Tiếp đó, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được đưa ra từ Hội nghị Trung ương 2, khoá VII (năm 1991) và được tiếp tục khẳng định trong nhiều hội nghị Trung ương và các kỳ đại hội của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước quản lý, xây dựng và phát triển xã hội, cũng như tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình và được đảm bảo bằng pháp luật cùng hệ thống bộ máy, tổ chức các cơ quan công quyền. Đồng thời, trừng trị nghiêm các hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng đất nước ta từ khi đổi mới đến nay, đưa đất nước ta có một cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao; nhiều vụ án xét xử các phần tử phản động, chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam vừa qua, cũng như việc xử nghiêm túc các đại án tham nhũng, lãng phí… với các mức án khác nhau là những minh chứng trong việc thực hiện hài hòa cả hai chức năng của chuyên chính: trong đó, tổ chức và xây dựng vì hạnh phúc, ấm no của Nhân dân được đặt lên hàng đầu.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ động hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, toàn bộ hệ thống chính trị nước ta cần chủ động chống lại mọi thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, mở rộng dân chủ, tổ chức xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa với mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, cần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với 8 đặc trưng cơ bản: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất  hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [6].

Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng (2021), trong các nội dung nổi bật cụ thể hoá 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước… tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh. Đây là một minh chứng trong việc xử lý hài hoà các chức năng của hệ thống chính trị - chuyên chính vô sản ở Việt Nam.

Như vậy, dù thời gian có lùi xa, song quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, của Ph.Ăngghen nói riêng về chuyên chính vô sản vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiên nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Việc kế thừa, vận dụng, bổ sung và phát triển tư tưởng này vào thực tiễn, đặc thù từng quốc gia là rất cần thiết, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

 

 
   

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995) Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, HN, tr.463.

2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995) Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, HN, tr.415.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995) Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, HN, tr.628.

4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995) Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, HN, tr.470.

5. Văn kiện ĐH Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) Nxb CTQG, HN, (2005), tr.327.

6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, (2011)tr.70.

 

Các tin dã dang