Những trăn trở của Tổng Bí thư Lê Duẩn với đổi mới quản lý kinh tế

Cập nhật: 07/04/2026 22:16

TS. Phạm Thị Bảo Thoa
Giảng viên chính, Khoa Lý luận cơ sở

          Tổng Bí thư Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận sinh ngày 07/4/1907 tại xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Tr (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, đồng chí tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên từ năm 1928 và trở thành một trong những Đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ rất sớm đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện tư duy sáng tạo và tầm nhìn chiến lược, góp phần vào những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tác phẩm Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí không chỉ phân tích chính xác, đánh giá sâu sắc tình hình miền Nam sau khi thi hành Hiệp định Giơnevơ mà còn là cơ sở quan trọng cho sự ra đời của Nghị quyết 15 (năm 1959) - một quyết định lịch sử của Đảng ta.

          Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960), đồng chí Lê Duẩn được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trên cương vị Bí thư thứ nhất Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cho đến khi từ trần (ngày 10/7/1986), đồng chí đã giành nhiều sự quan tâm, trăn trở về đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới quản lý kinh tế. Với tầm vóc trí tuệ cao, nhãn quan chính trị sâu sắc, nhạy bén đồng chí luôn quan tâm đến phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt, những tư tưởng của đồng chí luôn thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin; gắn việc vận dụng những quy luật kinh tế với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, đồng chí cũng là người cởi mở, tôn trọng những cách làm mới, tạo tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới đất nước sau này.

  1. Quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn về đổi mới quản lý kinh tế

          Thứ nhất, quan điểm về phát triển sản xuất

          Tổng Bí thư Lê Duẩn là một trong những người học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí không chỉ hiểu sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn dành nhiều tâm sức để biến lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin thành hành động cách mạng. Theo đồng chí, cần phải quyết tâm thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng thì mới có chủ nghĩa xã hội: “Phải làm cách mạng về quan hệ sản xuất mới xác lập được cái nền của làm chủ tập thể và phải không ngừng củng cố và hoàn thiện chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối. Nhưng từ sản xuất nhỏ đi lên cho nên phải coi cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; có như vậy thì mới có sản xuất lớn, có đại công nghiệp. Và phải cải tạo con người, xây dựng con người mới, nền văn hoá mới; bởi vì sự tự giác, chủ động của con người là một điều kiện cực kỳ quan trọng để xây dựng chủ nghĩa xã hội”[1]. Đồng chí đã chỉ ra “cái vốn” quan trọng để nước ta phát triển kinh tế là “đất đai, rừng, biển, tài nguyên thiên nhiên chưa khai thác, và một lực lượng lao động khá dồi dào chưa phân công lại và chưa sử dụng hết”. Đây là những yếu tố đầu vào quan trọng mang tính quyết định đến thành công của Việt Nam cũng như những nước bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá (phát triển theo chiều rộng dựa vào tài nguyên và lao động dồi dào).  Muốn thực hiện, khai thác được những nguồn lực này, vai trò của chính quyền địa phương là rất quan trọng. Bởi chính quyền địa phương nắm rõ tình hình thực tế khai thác tiềm năng lao động, đất đai để từ đó trung ương đưa ra những quyết sách phù hợp… Còn tất cả những người lao động đều phải “lấy việc sản xuất của cải vật chất nhiều hay ít làm thước đo sự cống hiến của mình vào nền sản xuất xã hội”[2]. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: “tính chủ động, sáng tạo của quần chúng là nhân tố cơ bản của xã hội mới…”. Vận dụng sáng tạo quan điểm này, đồng chí Lê Duẩn đã đặc biệt đề cao vai trò làm chủ của người lao động, làm chủ tập thể. Và do thực tiễn rất sinh động, đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: cả chính quyền địa phương cũng như những người lao động cần phải nắm được thực tiễn thông qua trau dồi tri thức.

          Thứ hai, đổi mới quản lý kinh tế phải tuân thủ quy luật khách quan và thực tiễn đất nước

    Trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn luôn quan tâm tìm cách thức cải thiện, phát triển kinh tế. Đồng chí luôn nhất quán quan điểm cải thiện, đổi mới kinh tế là bước đi cần được tiến hành một cách thận trọng, phải tuân thủ quy luật khách quan và đảm bảo những điều kiện chủ quan của đất nước. Đổi mới kinh tế cần có lộ trình để từng bước chuyển phù hợp trước những sự kiện kinh tế. Theo đồng chí, nếu chỉ cần có chuyên chính vô sản và sự nhiệt huyết, hăng hái để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không cần tính đến các quy luật khách quan, không cần tính đến những sự kiện kinh tế đôi khi rất “ngoan cố và bướng bỉnh” thì tức là phạm một sai lầm hết sức nghiêm trọng[3].

Đồng chí cũng đã nghiên cứu sâu sắc chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin và khẳng định phát triển kinh tế nhiều thành phần là chính sách phù hợp nhất đối với nước Nga trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo Tổng Bí thư Lê Duẩn, “Vạch ra chính sách kinh tế mới và để thực hiện chính sách ấy, Lênin đã phải tốn không biết bao nhiêu công sức để thuyết phục cho những người cộng sản đầy nhiệt tình cách mạng nhưng không hiểu quy luật kinh tế thấy rằng chính sách kinh tế mới tuyệt nhiên không phải là chính sách phục hồi chủ nghĩa tư bản, trái lại, đó là chính sách duy nhất có thể có đối với nước Nga lúc bấy giờ nhằm chiến thắng chủ nghĩa tư bản và quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[4]. Đồng chí đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách NEP và có tư tưởng đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần tại miền Nam sau giải phóng, thống nhất đất nước. Song tư tưởng này đã không được thực hiện đầy đủ.

Năm 1984, trình bày ý kiến tại Hội nghị lần thứ sau Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh giá về đổi mới quản lý kinh tế. Về kết quả đạt được: Đảng và Nhà nước đã khắc phục một bước cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp và xúc tiến việc hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới… Điều này đã giúp khuyến khích tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Song đồng chí cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức của kinh tế nước ta như cơ sở vật chất - kỹ thuật còn non yếu, năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế còn thấp…, mà nguyên nhân chính là “còn hiện tượng bảo thủ, trì trệ cũng như phân tán, cục bộ, trước hết là chưa quán triệt và cụ thể hoá đường lối của Đảng một cách đúng đắn phù hợp với tình hình của đất nước để tạo nên một cơ chế quản lý mới hợp lý hơn”. Bàn về đổi mới kinh tế, đồng chí Lê Duẩn luôn nhấn mạnh, nhắc lại nhiều lần việc tôn trọng các quy luật khách quan, đồng thời đồng chí cũng chỉ ra việc áp dụng các quy luật ấy cũng như việc học tập kinh nghiệm của các nước anh em cần phải được thực hiện cẩn trọng dựa trên những đặc thù của đất nước. Do đó, đồng chí cho rằng để khắc khục những hạn chế trong quản lý kinh tế trên, Việt Nam cần học hỏi các nước anh em, song “không phải bất kỳ hình thức và phương pháp quản lý nào đã từng được áp dụng thành công ở các nước anh em cũng có thể đưa đến kết quả tốt đẹp ở nước ta”. Chúng ta cần học hỏi một cách sáng tạo, không sao chép máy móc và phải đặc biệt tôn trọng những quy luật khách quan, coi quản lý kinh tế là phương tiện để vận dụng quy luật khách quan đã được nhận thức để đạt được kết quả kinh tế cao nhất, đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

    Thứ ba, tôn trọng cách làm mới trong phát triển kinh tế

    Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí Lê Duẩn luôn trăn trở về cách thức để đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Đồng chí cho rằng muốn làm chủ tập thể phải nắm thực tiễn Việt Nam, đây là một vấn đề khó. Đồng chí đề cập đến vấn đề mặc (1965) - vấn đề mà Việt Nam có thể giải quyết được, “nhưng chúng ta chưa biết cách làm ăn”, bởi “có thể bỏ 4% đất đai để giải quyết vấn đề mặc, nhưng 5 năm rồi, chúng ta chưa làm được bao nhiêu”[5]. Theo đồng chí: “Xây dựng một hệ thống quản lý kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là một việc rất khó”, song đây lại là nhiệm vụ quan trọng cần nghiêm túc nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp. Từ thực tiễn khó khăn của đất nước, nhiều cách làm mới đã được một số địa phương thực hiện như “khoán chui” tại Vĩnh Phúc, Hải Phòng; “phá rào” tại Thành phố Hồ Chí Minh; “bù giá vào lương” tại Long An… Mặc dù được người dân đón nhận, song, do lo ngại đây là những cách làm có thể dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nên nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước còn băn khoăn, chưa thực sự ủng hộ. Với những trăn trở về cách thức quản lý kinh tế mới, về phát triển sản xuất sao cho đúng quy luật khách quan nhưng phù hợp với điều kiện của đất nước, đồng chí Lê Duẩn đã có quan điểm cởi mở với cách làm mới này. Về thăm Vĩnh Phúc, đồng chí Lê Duẩn đã chia sẻ:  “Về hoạt động kinh tế của hợp tác xã tôi có điều rất phân vân. Bởi vì, 5% ruộng đất giao cho gia đình thì người ta làm ra 45% thu nhập, còn 95% ruộng đất giao cho hợp tác xã thì chỉ làm ra khoảng 50% thu nhập, dù 50% này là lương thực rất cần cho xã hội.

Tôi phân vân đã lâu, nhưng thật sự chưa nghĩ ra được cách gì giải quyết. Nay anh đề ra “khoán hộ” thì có lẽ đó cũng là một cách. Nhưng vì quá mới, ngược với suy nghĩ và cách làm lâu nay, cho nên đa số anh em không đồng tình với anh. Anh yên tâm, một sáng kiến làm ăn mới chưa được mọi người chấp nhận ngay thì cũng là chuyện bình thường”[6]. Sau nghiên cứu mô hình khoán tại các địa phương, ngày 13/01/1981 Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 100-CT/TW “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự đổi mới trong quản lý kinh tế và cũng là tiền đề quan trọng để thực hiện Nghị quyết số 10 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.

2. Tiếp nối quan điểm đổi mới kinh tế của Tổng Bí thư Lê Duẩn, thực hiện phát triển Việt Nam từ năm 1986 đến nay  

          Những trăn trở về đổi mới kinh tế của Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng chính là những thách thức trong tìm giải pháp phát triển đất nước, đòi hỏi những giải pháp mang tính bứt phá, bước ngoặt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tiếp nối tư tưởng đổi mới kinh tế, tôn trọng những nhân tố mới, tiến bộ của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thực sự vươn mình, trở thành điểm sáng của kinh tế khu vực và ngày càng khẳng định vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới. Có thể thấy tư tưởng, lý luận về đổi mới kinh tế của đồng chí Lê Duẩn có giá trị khoa học cao đối với từng bước phát triển kinh tế Việt Nam

          Từ đại hội Đảng lần thứ IX, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[7]. Là một mô hình kinh tế thị trường mới, chưa có trong lịch sử kinh tế thị trường thế giới, song mô hình kinh tế ngày ngày càng khẳng định được tính ưu việt khi vừa đảm bảo tuân thủ quy luật kinh tế, vừa đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết quả phát triển kinh tế Việt Nam từ tốc độ tăng trưởng, quy mô tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người… gia tăng, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh chóng, an sinh xã hội được đảm bảo là minh chứng rõ nét cho thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Điều đó cho thấy, tiến trình đổi mới của nước ta tôn trọng quy luật kinh tế khách quan - phát triển kinh tế thị trường, một sản phẩm của văn minh nhân loại và xây dựng được mô hình phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt nam.  

          Trong phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, tuỳ từng giai đoạn lịch sử của đất nước mà kinh tế tư nhân được xác định vị trí, vai trò đúng đắn, phù hợp. Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những đột phá, sáng tạo, với trình độ quản lý kinh tế ngày càng cao, cùng những cơ hội lớn trong hội nhập quốc tế, Việt Nam xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Như đồng chí Lê Duẩn từng khẳng định, chính sách NEP thực hiện từ những năm 1921 là một chính sách phù hợp nhất với nước Nga khi đó. Phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có thành phần kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan. Song nếu áp dụng một cách máy móc, sách vở phát triển kinh tế tư nhân khi điều kiện đất nước chưa phù hợp có thể dẫn đến sai lầm, thậm chí chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, từng bước đổi mới, từng bước xác định vai trò của kinh tế tư nhân từ thành phần kinh tế “cần được cải tạo” đến “là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” cho thấy sự thận trọng trong thực hiện quyết sách phát triển kinh tế của Đảng ta, mà ở đó, tôn trọng quy luật khách quan gắn với thực tiễn đất nước là nguyên tắc quan trọng nhất.

Trong bối cảnh phát triển đất nước từ sau Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng, chúng ta có thể khẳng định và tự hào rằng, những tư tưởng của đồng chí Lê Duẩn vẫn tiếp tục toả sáng và phát huy hiệu quả trong điều kiện mới. Tên tuổi của đồng chí luôn gắn liền với những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc Việt Nam./.

 

[1] Duẩn, Nhân dân lao động làm chủ tập thể là sức mạnh, là lực đẩy của chuyên chính vô sản, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr 6-12

[2] Duẩn Tuyển tập (1950 -1965), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập I, tr1019 – 1020.

[3] Lê Duẩn - Một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.477

[4] Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 148.

[5] Lê Duẩn tuyển tập (1950 – 1965), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập I, tr1034-1035.

[6] Trần Hoàng Tiến: Đêm trước đổi mới và anh Ba - Lê Duẩn, anh Năm - Trường Chinh, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 20-2-2012

[7] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.128

Các tin dã dang