Kỷ niệm 156 năm Ngày sinh V.I.Lenin (22/4/1870 - 22/4/2026) - Người phát triển và bảo vệ triết học Mác trong thời đại mới

Cập nhật: 16/04/2026 03:26

Đặng Thị Hạnh - PTK Lý luận cơ sở

Ngày 22 tháng 4 hằng năm là dịp để toàn thế giới tiến bộ tưởng nhớ và tôn vinh Vladimir Ilyich Lenin - lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kế tục sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thế kỷ XIX, V.I.Lênin đã xuất hiện ở thế kỷ XX với tư cách là một nhà tư tưởng và nhà cách mạng kiệt xuất, tiêu biểu cho sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Không chỉ kế thừa một cách trung thành những giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết Mác, V.I.Lênin còn có công lao to lớn trong việc bảo vệ và phát triển toàn diện triết học Mác trong điều kiện lịch sử mới. Thông qua việc bổ sung, hoàn thiện và vận dụng sáng tạo, ông đã nâng học thuyết Mác lên một tầm cao mới, từng bước hiện thực hóa lý luận thành thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Bối cảnh lịch sử và yêu cầu phát triển triết học Mác

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có những biến đổi nhanh chóng và sâu sắc: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đặc biệt là khoa học về thế giới vi mô đã làm thay đổi căn bản nhận thức của con người về thế giới vật chất. Trong xã hội, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Mặc dù có sự điều chỉnh, nhưng bản chất ăn bám, bóc lột của nó không thay đổi và ngày càng bộc lộ rõ. Đồng thời, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết đặt ra nhiều vấn đề mới chưa có tiền lệ trong lịch sử,... Những biến đổi này không chỉ làm gia tăng các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản mà còn làm xuất hiện nhiều vấn đề mới về kinh tế, chính trị và xã hội, đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với việc bổ sung, phát triển lý luận cách mạng, trong đó có triết học Mác. Trong bối cảnh đó, phong trào công nhân quốc tế cũng đứng trước nhiều thử thách. Bên cạnh xu hướng cách mạng, đã xuất hiện các trào lưu tư tưởng lệch lạc như chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và các quan điểm duy tâm, bất khả tri, làm suy giảm tính chiến đấu và làm sai lệch bản chất khoa học của học thuyết Mác. Một bộ phận những người tự xưng là kế thừa chủ nghĩa Mác lại tìm cách giản lược, xuyên tạc hoặc phủ nhận những nguyên lý cơ bản của triết học Mác, đặc biệt là thế giới quan duy vật và phép biện chứng. Điều đó không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào công nhân mà còn đặt triết học Mác trước nguy cơ bị “hòa tan” trong các hệ tư tưởng phi khoa học. Chính trong bối cảnh lịch sử đầy biến động và những yêu cầu lý luận cấp thiết đó, Vladimir Ilyich Lenin đã xuất hiện, kế thừa một cách trung thành và phát triển sáng tạo triết học Mác, góp phần bảo vệ tính khoa học và cách mạng của học thuyết, đồng thời nâng nó lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu của thời đại.

V.I. Lênin - Người bảo vệ, phát triển sáng tạo triết học Mác

Tên tuổi của Lênin đã gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu thế kỷ XX đến nay. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất”[1].

V.I. Lênin đấu tranh chống các học thuyết phản khoa học bảo vệ triết học Mác.

Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác như phái Dân túy, phái Ma-khơ,... ở Nga không hài lòng, tức giận và tìm mọi cách, bằng mọi giá chống lại chủ nghĩa Mác. Chẳng hạn như, Mi-khai-lốp-xki, Cri-ven-cô của chủ nghĩa dân túy đã phủ định phép biện chứng duy vật và quan điểm duy vật lịch sử của C.Mác. Họ còn cho rằng, chủ nghĩa Mác chỉ là sự sao chép lại “tam đoạn luận” của Hêghen chứ không có gì mới. Do đó, họ bài xích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật của C.Mác; xem xét sự phát triển của lịch sử xã hội loài người chỉ như là quy luật tự nhiên đơn thuần. 

Trước tình hình này, V.I.Lênin đã lên tiếng phê phán tư tưởng của một số thủ lĩnh thuộc phái dân túy khi cố tình xuyên tạc những quan điểm của chủ nghĩa Mác, bác bỏ một cách có căn cứ lý luận, thực tiễn, chỉ ra bản chất tư sản, phản động của phái dân túy nói chung, Mi-khai-lốp-xki nói riêng, ông viết: N. Mi-khailốp-xki “bái phục Mác, ca ngợi Mác nhưng đồng thời lại hoàn toàn không nắm được nội dung cơ bản của học thuyết của Mác; và coi như không xảy ra chuyện gì cả, họ tiếp tục hát lại những điệp khúc cũ của “khoa xã hội học chủ quan”[2]. Vạch trần sự thoả hiệp, đầu hàng của những người theo phái Ma-khơ ở Nga là muốn điều hoà học thuyết Ma-khơ với chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng: “Các mưu toan đủ loại của họ để phát triển và bổ sung chủ nghĩa Mác đều dựa trên những phương pháp cực kỳ ngây thơ”[3] .

V.I.Lênin bảo vệ triết học Mác bằng cách bổ sung xuất sắc triết học Mác.

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã làm rõ và phát triển sâu sắc nhiều vấn đề cốt lõi của triết học Mác, đặc biệt là trong lĩnh vực nhận thức luận và phép biện chứng duy vật. Tiêu biểu, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (1909), V.I. Lênin đã kiên quyết đấu tranh chống lại trào lưu xét lại trong triết học, đồng thời khẳng định và phát triển nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, đưa ra định nghĩa toàn diện và khoa học về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”[4]

Thông qua việc lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống của triết học Mác trong thực tiễn. Ông phát triển lý luận nhận thức của triết học Mác về vai trò của thực tiễn như là tiêu chuẩn của chân lý, đồng thời làm phong phú thêm phép biện chứng duy vật khi vận dụng sáng tạo vào phân tích xã hội, chính trị trong điều kiện cụ thể của nước Nga. Ông viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”[5] . Như vậy, bằng việc bổ sung những luận điểm mới, đấu tranh tư tưởng sắc bén và tổng kết thực tiễn cách mạng, V.I.Lênin đã không chỉ bảo vệ mà còn phát triển triết học Mác, làm cho học thuyết này ngày càng hoàn thiện và có giá trị bền vững trong thời đại mới.

Trong công tác giảng dạy lý luận chính trị, việc V.I.Lênin phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen đã giúp người học không chỉ nắm lý thuyết mà còn hiểu được bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác. Đồng thời là cơ sở để xây dựng chương trình giảng dạy có tính hệ thống, logic. Quan điểm của V.I.Lênin cho rằng, lý luận không phải là những giáo điều khô cứng mà phải được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển thông qua thực tiễn cách mạng đã giúp định hướng cho phương pháp giảng dạy hiện nay cần tăng cường liên hệ thực tiễn, sử dụng ví dụ cụ thể, tình huống thực tế để người học hiểu sâu và vận dụng được kiến thức. Việc V.I.Lênin kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, đã đặt ra yêu cầu đối với công tác giảng dạy là phải giúp người học có lập trường tư tưởng vững vàng, khả năng nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay khi các luồng thông tin đa chiều, phức tạp ngày càng gia tăng.

Kỷ niệm 156 năm ngày sinh Vladimir Ilyich Lenin là dịp để chúng ta một lần nữa khẳng định tầm vóc vĩ đại và những cống hiến to lớn của Người đối với sự phát triển và bảo vệ triết học Mác. Những giá trị lý luận và thực tiễn mà V.I Lênin để lại vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự sâu sắc trong bối cảnh thế giới nhiều biến động hiện nay, giúp chúng ta kiên định lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh  trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 

 

[1] Hồ Chí Minh (2011)Toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.288.

[2] V.I. Lênin (1974), Toàn tập, t.1, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr.155

[3] V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr.424-425

[4] V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr.151

[5] V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr.167

 

Các tin dã dang