Ý nghĩa thời đại trong học thuyết giá trị của C.Mác

Cập nhật: 06/05/2026 15:17

TS Phạm Thị Bảo Thoa 
Giảng viên chính, Khoa Lý luận cơ sở

Học thuyết giá trị của C.Mác là một trong những lý luận cốt lõi của kinh tế chính trị mác – xít. Học thuyết giá trị không chỉ lý giải về nguồn gốc của giá trị mà còn chỉ ra quy luật giá trị - quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất, trao đổi hàng hoá. Qua đó, phản ánh bức tranh sinh động về những lựa chọn, quyết định của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trường. Từ khi học thuyết giá trị của C.Mác ra đời đến nay, tình hình kinh tế thế giới luôn có biến động không ngừng về nguồn lực sản xuất, tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất,… Song học thuyết giá trị của C.Mác vẫn là ngọn hải đăng dẫn đường, chi phối hành động của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Đó là những minh chứng rõ nét nhất cho giá trị vững bền của học thuyết giá trị của C.Mác trong thời đại hiện nay. Vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tuân thủ quy luật giá trị. Song, nhằm đảm bảo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế hiện đại, hội nhập, đồng thời khẳng định rõ nét tính định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã và đang nỗ lực phát huy tính tích cực, hạn chế tiêu cực của quy luật giá trị.

  1. Những nội dung cơ bản trong học thuyết giá trị của C.Mác

Thứ nhất, lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị

Theo C.Mác, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Lao động xã hội ở đây được hiểu là tất cả những lao động, những người lao động để tạo nên một sản phẩm, hàng hóa. Ví như việc tạo ra một cây bút chì phải bao gồm cả lao động của những người sản xuất than chì ở Chi Lê; khai thác gỗ Tùng Tuyết ở rừng amazon; làm keo dán ở Đài Loan; sản xuất ra máy móc ở Đức… Tất cả các hoạt động lao động trên tạo thành giá trị của một hàng hoá.  Giá trị của hàng hóa được biểu hiện ở mặt chất và mặt lượng: Mặt chất của giá trị là lao động; Mặt lượng của giá trị là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Thước đo đo lượng giá trị của hàng hóa là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa. Theo C.Mác: “Với tư cách là những giá trị thì tất cả mọi hàng hóa đều chỉ là những lượng thời gian lao động nhất định đã kết đọng lại”[1]. Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa là thời gian trung bình để sản xuất ra hàng hóa đó. Nó được xác định dựa vào những điều kiện sản xuất trung bình; trình độ thành thạo trung bình; cường độ lao động trung bình của tất cả những người sản xuất loại hàng hóa đó trên thị trường. Do đó, các chủ thể kinh tế thường điều chỉnh năng suất lao động, cường độ lao động, mức độ phức tạp của lao động để giảm thời gian lao động cá biệt, nhằm vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh.

          Thứ hai, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất trong nền sản xuất hàng hoá

Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của hàng hoá đó, nói cách khác, dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Nếu gạt bỏ sự khác biệt về giá trị sử dụng của hàng hoá thì điểm chung giữa những hàng hoá khi chúng đứng đối diện để trao đổi chính là lao động. C.Mác viết: “Bây giờ nó không còn là một cái bàn, hay là một cái nhà, hay là sợi, hay là một vật có ích nào nữa cả. Tất cả những thuộc tính mà người ta có thể nhận thấy được bằng giác quan đã biến đi ở nó[2]. Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất tư bản, C.Mác tiếp tục nghiên cứu về toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ăngghen cũng bổ sung, làm rõ những lý luận của Mác về giá trị. Ăngghen viết: Với số lượng lao động bằng nhau, hai người công nhân sẽ có thêm một giá trị mới ngang nhau vào sản phẩm của họ. Nhưng sản phẩm của mỗi người lại có thể có một giá trị khác nhau tùy lao động quá khứ đã vật hóa trong tư liệu sản xuất. Như vậy tư liệu sản xuất không phải là cái gì ngoài lao động mà là những lao động đã được vật hoá. Điều này càng đúng với nền kinh tế thị trường – mọi yếu tố đầu vào và đầu ra đều thông qua thị trường. Có thể thấy, việc trao đổi hàng hoá dựa trên một cơ sở chung nhất chính là giá trị hàng hoá. Sự biến đổi giá cả một cách tự phát là sự phản ánh hoạt động của quy luật giá trị. Giá cả dù có thay đổi, song vẫn xoay quanh trục giá trị. Do đó, quy luật giá trị trở thành nguyên tắc nền tảng chi phối mọi hoạt động trao đổi trên thị trường.

  1. Ý nghĩa học thuyết thuyết giá trị của C.Mác trong thời đại mới

Học thuyết giá trị của C.Mác đến nay vẫn còn nguyên giá trị khoa học, bởi nó phản ánh thực tiễn, quy luật kinh tế cơ bản của mọi nền sản xuất hàng hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trường. Xuyên suốt quá trình cạnh tranh, các chủ thể kinh tế, các nền kinh tế đều tuân thủ học thuyết giá trị để vận hành sản xuất, kinh doanh, gia tăng năng lực cạnh tranh, của mình.

Quy luật giá trị có tác động điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá giúp các nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hiệu quả, phù hợp với những thế mạnh về các nguồn lực như nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, trình độ khoa học công nghệ…, đồng thời góp phần làm cho hàng hoá được dịch chuyển cân bằng giữa các vùng trong nền kinh tế quốc gia cũng như trên thị trường toàn cầu.

Với sức ép cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế, người sản xuất không ngừng cải tiến khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, gia tăng hàm lượng tri thức và mức độ phức tạp của lao động nhằm làm hạ chi phi phí sản xuất. Quá trình này đã khuyến khích tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Tác động của quy luật giá trị cũng chính là động lực để thúc đẩy cạnh tranh. Các nhà đầu tư lựa chọn đầu tư, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá đến những thị trường họ có lợi. Đồng thời, họ cũng nỗ lực xây dựng thương hiệu, định vị thương hiệu hàng hoá, thương hiệu doanh nghiệp, gắn liền giá trị sản phẩm, doanh nghiệp với thương hiệu này. Trong nền kinh tế hiện đại, thương hiệu có thể được coi là một trong những yếu tố cấu thành trong giá trị hàng hoá, ở góc nhìn khác, thương hiệu cũng có thể hiểu là một loại hàng hoá phi vật thể. Các quốc gia đều mong muốn phổ rộng hàng hoá có thương hiệu của mình trên phạm vi toàn cầu.

Bên cạnh đó, quá trình cạnh tranh khốc liệt, khiến những người sản xuất hàng hoá phân hoá thành người giàu và người nghèo. Tốc độ và quy mô kinh tế tăng trưởng càng nhanh thì khoảng cách giàu – nghèo càng lớn. Dưới tác động của quy luật giá trị, sự phân hoá giàu – nghèo không giảm đi so với thời đại của C.Mác mà ngày càng thể hiện rõ nét, thậm chí trở thành vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay.

  1. Vận dụng sáng tạo quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay

Từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam cũng như rất nhiều nền kinh tế thị trường khác trên thế giới đều được vận hành bởi các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật giá trị của C.Mác. Học thuyết giá trị phản ánh quy luật kinh tế cơ bản, cốt lõi nhất của nền sản xuất hàng hoá, do đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam – một nền kinh tế thị trường hội nhập, hiện đại phải vận hành theo quy luật kinh tế khách quan đó. Nói cách khác, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa hấp thụ những yếu tố tích cực, đồng thời phải thừa nhận những yếu tố tiêu cực của quy luật giá trị. Tuy nhiên, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử kinh tế thị trường thế giới”, do dó, Việt Nam đã và đang tiếp tục phát huy những yếu tố tích cực của học thuyết giá trị, đồng thời có những biện pháp giảm thiểu những hạn chế từ tính tiêu cực của học thuyết này. Cụ thể:

 Thứ nhất, thực hiện các chính sách phát huy tính tích cực quy luật giá trị

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hiện đại hoá môi trường đầu tư kinh doanh nhằm khơi thông các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vừa là giải pháp, vừa là  nhiệm vụ trọng tâm đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.

Tính đến tháng 01/2026, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 quốc gia[3], vùng lãnh thổ trên thế giới, hoàn tất thiết lập quan hệ ngoại giao với 193/193 quốc gia là thành viên Liên hợp quốc. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tham gia 17 hiệp định thương mại tự do với sự tham gia của khoảng 60 nền kinh tế[4]. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ ở nước ta, hình thành phương thức sản xuất, kinh doanh mới, đặc biệt có tác động gia tăng độ mở thương mại cho nền kinh tế Việt Nam. Các chính sách khuyến khích vốn đầu tư trong nước, phát triển kinh tế tư nhân giúp quá trình lưu thông hàng hoá trong không gian thương mại nội địa, quốc tế dễ dàng hơn.

Với các chính sách nhằm hiện đại hoá hoá môi trường đầu tư, đồng thời mang tính định hướng đầu tư như ưu đãi nguồn lực (thuế, tiền thuê đất, thuế…) các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng, chuyển đổi không gian phát triển, thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế.

Thứ hai, hạn chế tính tiêu cực của quy luật giá trị

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không ngừng đầu tư về khoa học công nghệ nhằm gia tăng năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chính sách phát triển khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, gia tăng giá trị trong hàng hóa của Việt Nam đã được thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Hiện nay, trình độ khoa học, công nghệ của Việt Nam đã dần được nâng cao, đóng góp đáng kể vào phát triển sản xuất cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Năm 2025, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam có sự gia tăng về thứ hạng, xếp thứ 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ[5].

Tuân thủ quy luật kinh tế, đồng thời phải đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam chú trọng hoàn thiện thể chế kinh tế, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu – nghèo. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, nhóm yếu thế trong xã hội được Việt Nam thực hiện hiệu quả như: chính sách miễn giảm học phí cho học sinh trên cả nước[6]; hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ “Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội”; …

Sau hơn 170 năm từ khi khởi thảo đến nay, học thuyết giá trị của C.Mác đã thể hiện giá trị vững bền, vượt thời gian. Học thuyết giá trị của C.Mác đã thể hiện tính đúng đắn, khoa học ngay cả khi chủ nghĩa tư bản đã có nhiều sự điều chỉnh, cách thức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thế giới luôn có sự đổi mới không ngừng. Kinh tế số, kinh tế tri thức phát triển với nhiều sản phẩm, cách thức sản xuất đa dạng phong phú, song lao động, trí tuệ, tri thức của con người vẫn là yếu tố duy nhất, then chốt nhất cho mọi giá trị được tạo ra. Nắm vững học thuyết giá trị của C.Mác giúp Việt Nam hoàn thiện các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội vĩ đại của đất nước./.

 

 

 

 

[1] C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 1993, t.13, tr.15.

[2] C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 23, tr 65 - 66

[3] Hoàng Hà, 15 đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, https://nhandan.vn, ngày 31/01/2026

[4] Thảo Niên, Tận dụng các FTA, mở cánh cửa ra thị trường quốc tế, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.II, tr.112.

[6] Nghị định số 238/20025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ “quy định về chính sách học phí, miền giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo”

Các tin dã dang