Phạm Thị Dung*
Cách đây tròn 115 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng lớn lao giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Chuyến đi lịch sử ấy không chỉ mở đầu hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn khởi nguồn cho dòng chảy khát vọng xuyên suốt hơn một thế kỷ qua. Từ khát vọng độc lập dân tộc đến khát vọng thống nhất non sông, từ khát vọng hòa bình đến khát vọng phát triển hùng cường, mỗi bước tiến của đất nước đều mang dấu ấn của ý chí vươn lên, tinh thần tự lực, tự cường và niềm tin vào tương lai dân tộc.
Khát vọng độc lập dân tộc - ngọn lửa được thắp lên từ bến Nhà Rồng
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đặt ách thống trị đất nước ta, bóc lột và đàn áp Nhân dân ta; triều đình phong kiến suy yếu, bất lực. Giai đoạn này, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tư sản, dù thấm đẫm tinh thần yêu nước, nhưng lần lượt thất bại vì chưa tìm được đường lối đúng, chưa tập hợp được sức mạnh toàn dân trong một tổ chức cách mạng tiên phong. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành (sau này lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh), sinh ra trong gia đình nhà nho yêu nước ở Nghệ An, sớm hình thành chí hướng cứu nước, cứu dân.
Khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các sĩ phu đương thời, nhưng Nguyễn Tất Thành nhận thấy cần phải tận mắt xem các nước phương Tây làm gì, tổ chức xã hội ra sao, vì sao họ có thể thống trị các dân tộc khác, từ đó tìm con đường giải phóng dân tộc phù hợp với Việt Nam. Sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước bắt nguồn từ lòng yêu nước cháy bỏng, từ tư duy độc lập, sáng tạo và ý chí tìm một con đường mới cho dân tộc, vượt khỏi sự bế tắc của các khuynh hướng cứu nước lúc bấy giờ.
Ngày 05/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời Bến cảng Nhà Rồng trên con tàu Amiral Latouche Tréville, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Hành trình ấy đưa Nguyễn Tất Thành qua nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, giúp Người hiểu sâu sắc hơn bản chất của chủ nghĩa thực dân, đời sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như sức mạnh của các dân tộc bị áp bức khi biết đoàn kết đấu tranh.

Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville
tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
Từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc là cả một quá trình học tập, lao động, quan sát, đấu tranh và trưởng thành trong phong trào cách mạng thế giới. Dấu mốc có ý nghĩa quyết định là khi Người tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giải phóng dân tộc phải đặt trong dòng chảy cách mạng vô sản thế giới; cách mạng muốn thắng lợi phải có Đảng chân chính lãnh đạo, có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ và gắn bó máu thịt với Nhân dân.
Từ nhận thức lý luận đến hành động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người viết báo, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, hình thành những luận điểm nền tảng về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Mùa xuân năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một thời kỳ đấu tranh mới.
Từ khát vọng cứu nước đến hiện thực độc lập, thống nhất và đổi mới đất nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân Việt Nam đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ thân phận nô lệ, nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Tiếp đó là những chiến thắng vang dội trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã kết thúc ách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Những thắng lợi ấy không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam mà còn chứng minh sức sống mãnh liệt của con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lựa chọn. Từ thân phận một dân tộc mất nước, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia độc lập, thống nhất, làm chủ vận mệnh của mình, tạo nền tảng vững chắc để bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Sau chiến tranh, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới. Từ một nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nằm trong nhóm nền kinh tế có quy mô lớn của khu vực Đông Nam Á. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều thành tựu quan trọng; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Nhìn lại chặng đường hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thể khẳng định rằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam chính là kết quả của sự kết tinh ý chí độc lập, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển không ngừng của đất nước.
Khát vọng hùng cường dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn sau gần 40 năm đổi mới, đồng thời đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen của thời đại số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nhận diện những yêu cầu mới của sự phát triển, Đại hội XIV xác định quyết tâm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Đây không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần mà còn là yêu cầu lịch sử đặt ra đối với dân tộc Việt Nam trong bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển, chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo và việc phát huy tối đa sức mạnh nội sinh của đất nước.

Công cuộc đổi mới đất nước
Khát vọng hùng cường ngày nay được thể hiện ở việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy khoa học công nghệ trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; xây dựng nền văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển; bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển.
Đó còn là khát vọng xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và khát vọng cống hiến; phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, những biến động của kinh tế thế giới diễn ra phức tạp và khó lường, khát vọng hùng cường còn được thể hiện ở quyết tâm giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Khát vọng ấy đang được hiện thực hóa bằng những nỗ lực đổi mới toàn diện của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong đổi mới tư duy, nâng cao trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần lao động sáng tạo, không ngừng học tập, nâng cao trình độ, làm chủ khoa học - công nghệ và tích cực đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6/1911 không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người mà còn mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ lựa chọn mang tầm vóc lịch sử ấy, con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng, phát triển đất nước đã từng bước được xác lập và hiện thực hóa qua các thời kỳ cách mạng. Đồng thời, giá trị lớn nhất mà hành trình ấy để lại không chỉ là những thắng lợi đã đạt được, mà còn là bài học về ý chí tự lực, tự cường, tinh thần dám nghĩ, dám đi, dám mở đường vì tương lai dân tộc.
Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những thời cơ và vận hội phát triển mới, việc khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy sức mạnh con người Việt Nam và biến quyết tâm chính trị thành những kết quả phát triển cụ thể sẽ là yếu tố quyết định để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Đó cũng chính là sự tiếp nối xứng đáng nhất đối với hành trình lịch sử đã bắt đầu từ Bến Nhà Rồng cách đây 115 năm./.
* ThS, giảng viên chính khoa Xây dựng Đảng