ThS. Lê Thị Liên
Giảng viên chính, Khoa Nhà nước và pháp luật
Trong hệ thống chính quyền ba cấp ở Việt Nam hiện nay, cấp xã (bao gồm xã, phường, đặc khu) được định vị là “nền móng”, là nơi trực tiếp tiếp xúc, đối thoại và giải quyết toàn bộ các yêu cầu sinh hoạt, sản xuất, pháp lý của người dân và doanh nghiệp. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức (CB, CC) cấp xã chính là tấm gương phản chiếu sinh động nhất bản chất “phục vụ”, “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta. Đột phá vào công tác bồi dưỡng là con đường ngắn nhất nhưng lại bền vững nhất để nâng cao năng lực của đội ngũ CB, CC ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền một nền hành chính chuyên nghiệp và hiện đại. Việc đánh giá toàn diện các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong tác động đến công tác bồi dưỡng CB, CC cấp xã có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
1. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng
Các yếu tố khách quan là tổng hòa các điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp, xã hội nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của cơ sở bồi dưỡng và bản thân người học, nhưng lại đóng vai trò là môi trường định hình, định hướng và đặt hàng cho công tác bồi dưỡng.
1.1. Công tác lãnh đạo, định hướng mang tính chiến lược của Cấp ủy Đảng
Trước tiên, cấp ủy Đảng định hình “đầu bài” cho các cơ sở đào tạo thông qua hệ thống các Nghị quyết, Quy định về quy hoạch cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ dự nguồn qua từng nhiệm kỳ. Hệ thống các quy định, nghị quyết trở thành cơ sở chính trị, định hướng hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước cụ thể hóa thành cơ chế bồi dưỡng. Bên cạnh đó, sự chỉ đạo sát sao của Cấp ủy Đảng thể hiện qua việc phê chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và quy định bắt buộc về việc tham gia các chương trình bồi dướng đối với CB, CC. Tại các địa phương có cấp ủy quyết liệt, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ bồi dưỡng được tiến hành nghiêm túc, tạo ra áp lực hành chính lành mạnh, buộc các đơn vị phải cử cán bộ đi học đúng đối tượng, không thể cử đi thay hoặc đi học đối phó. Ngược lại, nếu thiếu sự chỉ đạo quyết liệt, công tác bồi dưỡng dễ rơi vào tình trạng hình thức, đối phó
1.2. Hệ thống thể chế pháp lý, cơ chế quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước vừa là căn cứ pháp lý để thiết kế nội dung bồi dưỡng, vừa là thước đo chuẩn hóa mà công tác bồi dưỡng bắt buộc phải hướng tới.
Các quy định pháp lý (như Luật Cán bộ, công chức; các Nghị định của Chính phủ về bầu cử, tuyển dụng, sử dụng và quản lý CB, CC cấp xã) phân cấp rất rõ tiêu chuẩn cho từng nhóm đối tượng. Cán bộ cấp xã yêu cầu rất cao về năng lực lãnh đạo, tập hợp quần chúng, hoạch định kế hoạch phát triển địa phương. Trong khi đó, Công chức cấp xã lại đòi hỏi tính chuyên sâu về quy trình tác nghiệp, luật chuyên ngành, kỹ năng số và năng lực phục vụ người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi từ mô hình quản lý CB, CC theo chỉ tiêu biên chế sang quản lý theo Vị trí việc làm là một bước ngoặt khách quan tác động đến công tác bồi dưỡng. Mỗi vị trí việc làm của CB, CC tại cấp xã có một bản mô tả công việc và khung năng lực cốt lõi riêng. Yếu tố này buộc công tác bồi dưỡng phải chuyển dịch triệt để từ mô hình bồi dưỡng theo diện rộng, cào bằng sang mô hình bồi dưỡng theo chiều sâu, “đo ni đóng giày” cho từng vị trí.
1.3. Tác động từ việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp
Việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây không chỉ là sự thay đổi về mô hình tổ chức hành chính, mà còn là sự thay đổi sâu sắc về phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở. Bản chất sâu xa hơn là cấp xã đang chuyển sang một trạng thái mới: từ cấp chủ yếu tổ chức thực hiện sang cấp trực tiếp quản trị địa bàn; từ cấp tiếp nhận chỉ đạo qua nhiều tầng nấc sang cấp phải chủ động nắm tình hình, phân tích vấn đề, đề xuất phương án, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả công việc. Yêu cầu về năng lực đối với CB, CC cấp xã hoàn toàn khác trước đây, đòi hỏi phải xây dựng lại hoàn toàn các khung chương trình bồi dưỡng đối với CB, CC cấp xã.
1.4. Tác động từ quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số.
Cùng với việc sắp xếp lại hệ thống chính quyền địa phương, quá trình cải cách hành chính tại chính quyền địa phương diễn ra vô cùng mạnh mẽ gắn với việc hệ thống pháp luật của nước ta phải liên tục đổi mới, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại, mang tính phục vụ cao. Các đạo luật cốt lõi tác động trực tiếp đến cấp cơ sở (như Luật Đất đai, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách, Luật Khiếu nại, tố cáo...), hệ thống các quy định về thủ tục hành chính liên tục được sửa đổi, hoàn thiện. Yếu tố khách quan này đặt công tác bồi dưỡng vào trạng thái phải “vận động liên tục”. Nếu các cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở đào tạo không kịp thời cập nhật các nghị định, thông tư, quy định mới ban hành vào chương trình, kiến thức bồi dưỡng sẽ ngay lập tức bị lạc hậu, khiến học viên sau khi hoàn thành khóa bồi dưỡng vẫn lúng túng, thậm chí làm sai quy định pháp luật khi thực thi công vụ tại địa phương.
Một trong những yêu cầu ở mức cao của cải cách hành chính là xây dựng chính quyền số. Trước đây, năng lực của công chức cấp xã được đo bằng sự am hiểu văn bản giấy và kinh nghiệm thực địa. Ngày nay, nếu không có “Năng lực số”, công chức sẽ bị tụt hậu và không thể hoàn thành nhiệm vụ (ví dụ: việc vận hành Đề án 06, định danh điện tử, số hóa sổ hộ tịch, đất đai, thực hiện thủ tục hành chính trên hệ thống phần mềm quản lý chung,...). Do đó, kỹ năng số trở thành cấu phần bắt buộc được xây dựng trong mọi chương trình bồi dưỡng, với những nội dung cần thiết như: Kỹ năng khai thác, phân tích dữ liệu dân cư; Kỹ năng vận hành, xử lý hồ sơ trên hệ thống Dịch vụ công trực tuyến toàn trình; Kỹ năng bảo mật thông tin và an toàn không gian mạng tại cơ sở.
1.5. Ảnh hưởng từ yếu tố kinh tế - xã hội, đặc điểm đặc thù và mục tiêu phát triển địa phương tại thành phố Hải Phòng.
Tại Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/9/2025 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã đặt ra mục tiêu: “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ khu vực Đông Nam Á… quốc phòng - an ninh - trật tự an toàn xã hội vững chắc, đi đầu trong xây dựng mô hình CNXH gắn với con người XHCN”. Để trở thành thành phố đi đầu trong mọi lĩnh vực, hầu như yêu cầu về chất lượng, thời gian thực hiện các thủ tục hành chính tại xã, phường, đặc khu đều được thành phố đặt ra cao hơn so với yêu cầu chung của cả nước. Điều đó đặt ra áp lực lớn đối với đội ngũ CB, CC cấp xã hiện còn hạn chế về số lượng và chưa đồng đều về chất lượng. Đòi hỏi khẩn trương có những chương trình bồi dưỡng phù hợp, không chỉ trang bị kiến thức, mà phải trang bị cho CB, CC cấp xã cả năng lực chịu áp lực, sẵn sàng đối mặt thách thức, hoàn thành nhiệm vụ ở chất lượng cao nhất, trong thời gian ngắn nhất.
1.6. Sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức, thực hiện hoạt động bồi dưỡng CB, CC cấp xã.
Để tổ chức hoạt động bồi dưỡng CB, CC cấp xã đòi hỏi sự tham gia và phối hợp của nhiều chủ thể từ trung ương (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ), cấp tỉnh (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo – dân vận, Sở Nội vụ, Trường Chính trị Tô Hiệu) đến cấp xã (Đảng ủy, các đoàn thể, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã). Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức tại địa phương trong việc bồi dưỡng CB, CC cấp xã không chỉ là một bước trong quy trình vận hành, mà chính là yếu tố quyết định đến chất lượng và tính thực tiễn của toàn bộ công tác này. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức không chỉ là việc ký kết các văn bản liên tịch, mà là một quá trình liên tục từ Khảo sát nhu cầu - Thiết kế chương trình - Tổ chức học tập - Đánh giá sau bồi dưỡng. Phối hợp càng chặt chẽ, thực chất bao nhiêu thì hiệu quả bồi dưỡng được đảm bảo, năng lực của đội ngũ CB, CC cấp xã càng được nâng cao bấy nhiêu, góp phần trực tiếp vào sự phát triển của địa phương.
2. Ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong hoạt động bồi dưỡng.
Các yếu tố chủ quan là những yếu tố nội tại, thuộc về năng lực tổ chức của cơ sở đào tạo, phương pháp sư phạm của giảng viên và thái độ, ý thức tự thân của chính học viên. Đây là những yếu tố quyết định trực tiếp việc chuyển hóa các mục tiêu bồi dưỡng thành năng lực hành động thực tế của cán bộ.
2.1. Việc thiết kế khung chương trình, nội dung giáo trình và tính tích hợp thực tiễn địa phương
Khung chương trình và giáo trình là công cụ truyền tải tri thức cơ bản nhất. Chất lượng của công cụ này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiếp thu của học viên. Hiệu quả của công tác bồi dưỡng được quyết định bởi các yếu tố cơ bản:
- Một là, tính khoa học và cấu trúc của chương trình: Một chương trình bồi dưỡng đạt chuẩn phải đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa cấu trúc lý luận nền tảng và kỹ năng hành động thực tế. Qua thực tế cho thấy, các chương trình bồi dưỡng hiện nay vẫn còn nặng về phần lý luận chung, chiếm dung lượng cao trong tổng thời lượng. Điều này tạo ra sự mệt mỏi và giảm hiệu suất tiếp thu đối với nhóm học viên cấp xã – những người vốn cần các giải pháp “cầm tay chỉ việc” để xử lý công việc phát sinh ngay trong những tình huống cụ thể, hiện thời tại ủy ban.
- Hai là, tính chuyên biệt và cập nhật của nội dung chương trình: Thời gian qua, còn tình trạng nhiều nội dung bồi dưỡng được thiết kế lặp lại cho các lớp bồi dưỡng khác nhau, với các đối tượng học viên khác nhau. Với yêu cầu quản lý CB, CC cấp xã theo vị trí việc làm, đòi hỏi các chương trình bồi dưỡng phải được thiết kế chuyên biệt, đi sâu vào từng kiến thức, kỹ năng của từng vị trí công tác.
- Ba là, hàm lượng kiến thức thực tiễn, nhất là “thực tiễn địa phương trong nội dung bồi dưỡng: Giáo trình bồi dưỡng do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh hoặc Bộ Nội vụ ban hành mang tính thống nhất toàn quốc nên thường mang tính vĩ mô. Trong khi đó, thực tiễn công tác quản lý tại từng tỉnh, thành phố; từng đơn vị xã phường vô cùng phong phú, với nhiều đặc thù, nhiều vấn đề phát sinh, nhiều yêu cầu đặt ra. Để nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng đòi hỏi các cơ sở đào tạo địa phương (như Trường Chính trị cấp tỉnh) có sự chủ động, có đủ năng lực để biên soạn các chuyên đề bổ sung, tích hợp các nghị quyết đặc thù, các câu chuyện thực tiễn kinh tế - xã hội của chính địa phương mình vào bài giảng.
2.2. Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tế và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Đối tượng người học là CB, CC cấp xã có một đặc điểm rất riêng: họ là những người gắn sát với thực tế, có trải nghiệm phong phú và giao dịch hàng ngày với nhân dân. Do đó, họ có tư duy thực dụng (theo nghĩa tích cực) và có khả năng phát hiện rất nhanh những lỗ hổng lý thuyết của giảng viên. Nếu đội ngũ giảng viên của các trường chính trị chỉ thuần túy tốt nghiệp đại học rồi chuyển sang giảng dạy, thiếu trải nghiệm thực tế tại các cơ quan chính quyền, bài giảng sẽ dễ rơi vào trạng thái “giảng đường hóa”, xa rời thực tế. Do đó, đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải tham gia nghiêm túc các hoạt động nghiên cứu thực tế tại cơ sở, thường xuyên cập nhật thông tin, văn bản của địa phương – từ thành phố đến các xã, phường, đặc khu.
Phương pháp giảng dạy truyền thống – giảng viên độc thoại, học viên nghe hoặc ghi chép thụ động không còn phù hợp với đối tượng bồi dưỡng là những người đã có kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Việc áp dụng các phương pháp tích cực như: Phương pháp học tập qua hành động (Action Learning), phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (Case-study), thảo luận, chuyên gia... là phương thức hữu hiệu để một mặt bổ sung khuyết thiếu về kiến thức thực tiễn của giảng viên; một mặt thu hút sự quan tâm, tham gia và phát huy được kinh nghiệm, năng lực thực tiễn của học viên.
2.3. Động cơ, cấu trúc độ tuổi, năng lực tự thân và ý thức đạo đức công vụ của học viên
Học viên vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể tham gia quyết định chất lượng của quá trình bồi dưỡng. Năng lực và thái độ nội tại của học viên là bộ lọc quyết định bao nhiêu phần trăm tri thức được hấp thụ. Quá trình thiết kế các chương trình bồi dưỡng cho CB, CC cần lưu ý những đặc điểm đặc thù của đối tượng học viên:
- Một là, sự phân hóa sâu sắc về cấu trúc độ tuổi và nền tảng công nghệ: Nhóm CB, CC trẻ (dưới 35 tuổi): Thường có trình độ đại học chính quy, khả năng tư duy logic, tiếp thu công nghệ thông tin và chuyển đổi số rất nhanh. Tuy nhiên, nhóm này lại thường thiếu kinh nghiệm thực tế trong công tác vận động quần chúng, dễ nóng vội hoặc lúng túng khi xử lý các mối quan hệ đan xen ở cơ sở. Nhóm CB, CC lớn tuổi (trên 50 tuổi): Có vốn sống phong phú, kỹ năng dân vận khéo léo, am hiểu tâm lý địa phương nhưng lại gặp rào cản cực lớn trong việc tiếp cận CNTT, sử dụng các phần mềm quản lý công trực tuyến và ngại thay đổi tư duy quản lý cũ. Sự phân hóa này đặt ra bài toán chủ quan cho công tác bồi dưỡng: Giảng viên không nên áp dụng cùng một tốc độ truyền đạt và một phương thức tiếp cận cho cả hai nhóm đối tượng trong cùng một lớp học.
- Hai là, nhu cầu tự thân của người học đối với các chương trình bồi dưỡng: Một trong những rào cản chủ quan lớn nhất hiện nay là động cơ đi học của một bộ phận CB, CC. Do các quy định về chuẩn hóa cán bộ để phục vụ đại hội hoặc bổ nhiệm, nhiều học viên đến lớp với mục đích duy nhất là lấy được “chứng chỉ” để hoàn thiện hồ sơ nhân sự. Động cơ này dẫn đến việc học tập đối phó, đi muộn về sớm, nhờ người làm bài thu hoạch. Do đó, cần nâng cao nhận thức, ý thức tự thân của CB, CC để học thấy được ý nghĩa thực chất của hoạt động bồi dưỡng.
2.4. Hạ tầng kỹ thuật, điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ số phục vụ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Môi trường vật chất và công nghệ hỗ trợ không còn là yếu tố phụ trợ mà đã trở thành một cấu phần hữu cơ tác động đến chất lượng bồi dưỡng trong thời đại số.
- CB, CC cấp xã đi học luôn chịu áp lực vừa học vừa phải xử lý hồ sơ công việc tại địa phương. Do đó, nếu cơ sở đào tạo vẫn giữ phương thức bồi dưỡng tập trung dài ngày trực tiếp, tỷ lệ vắng học hoặc học không tập trung sẽ rất cao. Yếu tố chủ quan ở đây là việc nhà trường phải xây dựng được hạ tầng công nghệ: Hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), kho học liệu số, các bài giảng điện tử tương tác (E-learning). Khi hạ tầng công nghệ cho phép kết hợp mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) – học viên tự học các phần lý thuyết trực tuyến vào buổi tối và chỉ tập trung thảo luận tình huống trực tiếp tại lớp vào cuối tuần – sẽ giải phóng được quỹ thời gian, nâng cao rõ rệt hiệu quả bồi dưỡng. Hệ thống mạng, công nghệ thông tin cần được đầu tư nâng cấp đảm bảo để giảng viên và học viên thực hiện việc ứng dụng AI vào giảng dạy và học tập.
Như vậy, có thể thấy tác động đến hiệu quả công tác bồi dưỡng CB, CC cấp xã bao gồm các yếu tố bên ngoài và các yếu tố nội tại bên trong hoạt động bồi dưỡng. Các nhóm yếu tố này không vận động tách rời mà nằm trong một hệ thống tương tác, chuyển hóa biện chứng lẫn nhau. Hệ thống các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã hiện nay tạo thành một mạng lưới quan hệ nhân quả phức tạp. Không thể nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở nếu chỉ tiến hành đổi mới đơn lẻ ở một khâu hay một yếu tố độc lập mà đòi hỏi hệ thống giải pháp hiệu quả và đồng bộ.
Để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển bứt phá của thành phố Hải Phòng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, công tác bồi dưỡng CB, CC, trong đó trọng tâm là CB, CC cấp xã phải được coi là một chiến lược đầu tư phát triển trọng điểm. Việc nhận diện sâu sắc phương thức tác động của các yếu tố bên ngoài để từ đó chủ động điều chỉnh, tối ưu hóa các yếu tố chủ quan nội tại, thiết kế và tổ chức các chương trình bồi dưỡng CB, CC cấp xã chất lượng, phù hợp, hiệu quả chính là giải pháp mang tính đột phá, khoa học, giúp xây dựng vững chắc nền móng của hệ thống chính trị của thành phố Hải Phòng nói riêng, trên cả nước nói chung ngay từ cấp chính quyền cơ sở./.