Từ khát vọng độc lập đến khát vọng phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Cập nhật: 26/08/2026 10:17

PHẠM THỊ DUNG[1]

Mùa Thu năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mùa Thu của độc lập, tự do, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước. Từ khát vọng độc lập ấy, dân tộc Việt Nam đã trải qua hành trình đầy gian nan nhưng vẻ vang: bảo vệ nền độc lập, thống nhất non sông, tiến hành đổi mới, hội nhập và phát triển. Những thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Ngày nay, khát vọng độc lập của dân tộc đang được tiếp nối bằng khát vọng vươn mình, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam phát triển, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trong kỷ nguyên mới.

1. Mùa Thu năm 1945 – khát vọng độc lập trở thành hiện thực

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và đặc biệt là cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945, lực lượng cách mạng từng bước được xây dựng, quần chúng được giác ngộ, tổ chức và tập hợp. Khi thời cơ lịch sử xuất hiện, Đảng đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa, đưa sức mạnh của toàn dân trở thành sức mạnh chính trị to lớn làm thay đổi vận mệnh đất nước.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thân phận của một dân tộc mất nước, Nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ vận mệnh của mình; từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế với tư cách một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đó không chỉ là sự thay đổi về thể chế chính trị mà còn là sự chuyển biến căn bản về vị thế, bản lĩnh và khát vọng phát triển của dân tộc. Kể từ mùa Thu năm 1945, lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới, trong đó quyền làm chủ của Nhân dân trở thành nền tảng của mọi thắng lợi trong cách mạng, kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Từ giữ vững nền độc lập đến thống nhất non sông (1945 - 1975)

Sau Cách mạng Tháng Tám, nền độc lập vừa giành được đứng trước những thử thách đặc biệt nghiêm trọng. Chính quyền cách mạng phải đối diện với tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong khi đất nước kiệt quệ về kinh tế, hậu quả của nạn đói, nạn mù chữ và chế độ thuộc địa để lại hết sức nặng nề. Đồng thời, nhiều thế lực ngoại xâm và phản động tìm cách chống phá chính quyền cách mạng.

Trong hoàn cảnh đó, giữ vững nền độc lập trở thành nhiệm vụ sống còn. Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã vận dụng linh hoạt phương châm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từng bước vượt qua những thử thách khắc nghiệt.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu đã tạo ra bước ngoặt quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhưng đất nước tiếp tục phải trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra điều kiện lịch sử để cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Có thể thấy, chặng đường từ năm 1945 đến năm 1975 là sự vận động nhất quán của khát vọng dân tộc. Nếu năm 1945 là khát vọng thoát khỏi thân phận mất nước, trở thành một quốc gia độc lập, thì giai đoạn 1945 -1975 là quá trình hiện thực hóa khát vọng độc lập gắn với thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của dân tộc.

3. Đổi mới – bước phát triển mới của khát vọng xây dựng đất nước

Sau chiến tranh, đất nước đứng trước những hậu quả vô cùng nặng nề; mô hình quản lý kinh tế tập trung, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế; nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn thiếu thốn. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy, tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước và xu thế vận động của thời đại. Đại hội VI của Đảng năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy và đường lối phát triển đất nước. Công cuộc đổi mới được khởi xướng và từng bước triển khai toàn diện đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Việt Nam sau 40 năm đổi mới

40 năm đổi mới đã tạo nên sự thay đổi sâu sắc về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Từ một đất nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam từng bước trở thành thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế. Từ một nền kinh tế nghèo và kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam ước đạt 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,05 tỷ USD. Những con số đó cho thấy công cuộc đổi mới đã tạo nên một bước chuyển quan trọng của khát vọng dân tộc: từ khát vọng độc lập, tự do và bảo vệ nền độc lập đến khát vọng phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.

4. Khát vọng vươn mình – sự phát triển mới của khát vọng dân tộc trong kỷ nguyên mới

Hiện nay, thế giới đang chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, chuyển đổi xanh, những biến động địa chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống đang tạo ra một môi trường phát triển vừa có cơ hội, vừa có nhiều rủi ro.

Trong bối cảnh đó, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong trật tự phát triển mới của thế giới? Khát vọng vươn mình của dân tộc chính là câu trả lời có tính lịch sử cho câu hỏi đó.

Nếu độc lập năm 1945 là sự khẳng định quyền tồn tại của một dân tộc, đổi mới là quá trình tìm kiếm và khai mở con đường phát triển, thì vươn mình là yêu cầu đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới, phát huy đầy đủ hơn tiềm năng, sức mạnh và vị thế đã được tạo dựng qua nhiều thập niên.

Đại hội XIV của Đảng (2026) đã xác định rõ tinh thần “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”. Đại hội đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và hướng tới năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Đây là bước phát triển mới về chất của tư duy phát triển đất nước. “Vươn mình” không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. “Vươn mình” phải được hiểu là vươn lên về trình độ phát triển, năng lực tự chủ, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học – công nghệ, năng lực quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng đời sống nhân dân và vị thế quốc tế của đất nước.

Đặc biệt, khát vọng vươn mình phải được đặt trên nền tảng độc lập, tự chủ và tự cường. Trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng, độc lập không thể hiểu theo nghĩa khép kín hay tách biệt với thế giới. Ngược lại, tự chủ chiến lược đòi hỏi Việt Nam phải đủ năng lực lựa chọn con đường phát triển, làm chủ những nguồn lực thiết yếu, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và chủ động thích ứng trước những biến động bên ngoài.

Mùa thu năm 1945, sức mạnh của dân tộc được tập trung để giành chính quyền, thì trong kỷ nguyên vươn mình, sức mạnh ấy phải được chuyển hóa thành năng suất lao động, tri thức, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế, năng lực quản trị và sức mạnh của con người Việt Nam.

5. Từ khát vọng đến hành động – yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình

Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, thời cơ lịch sử chỉ trở thành thắng lợi khi có sự chuẩn bị về lực lượng, có đường lối đúng đắn, tổ chức chặt chẽ và quyết tâm hành động. Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên mới: thời cơ không chỉ đến từ hoàn cảnh bên ngoài mà còn phụ thuộc vào năng lực tự tạo dựng thời cơ của chính đất nước. Việt Nam phải có khả năng biến những biến động của thế giới thành cơ hội phát triển; biến khoa học – công nghệ thành động lực tăng trưởng; biến nguồn nhân lực thành lợi thế cạnh tranh và biến khát vọng của nhân dân thành sức mạnh hành động.

Để hiện thực hóa khát vọng vươn mình, trước hết phải tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, khắc phục tư duy nhiệm kỳ, tư duy cục bộ và tâm lý bằng lòng với những thành quả đã đạt được. Vươn mình đòi hỏi tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời xây dựng nền hành chính phục vụ, hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả và môi trường phát triển thông thoáng, minh bạch.

Thứ hai, phải coi khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để nâng cao năng suất và sức cạnh tranh quốc gia. Trong cuộc cạnh tranh phát triển hiện nay, lợi thế về tài nguyên hay lao động giá rẻ không còn đủ để tạo ra bước tiến dài hạn; lợi thế quyết định ngày càng nằm ở tri thức, công nghệ, dữ liệu, năng lực sáng tạo và chất lượng con người.

Thứ ba, phải phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người, coi con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và là động lực của phát triển. Cùng với đó, cần củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bởi lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy đoàn kết là một trong những nguồn sức mạnh cơ bản tạo nên mọi thắng lợi.

Thứ tư, phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Hội nhập phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để củng cố nội lực; đồng thời chủ động đóng góp vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới, kiên định bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Nhìn lại hơn tám thập niên kể từ mùa Thu năm 1945, có thể thấy một mạch phát triển xuyên suốt của dân tộc Việt Nam: độc lập – thống nhất – đổi mới – hội nhập – phát triển – vươn mình. Mỗi chặng đường là sự tiếp nối và phát triển của khát vọng dân tộc trong những điều kiện lịch sử mới. Những thành tựu đạt được qua các thời kỳ đã tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình. Phát huy ý chí độc lập, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết và nguồn lực của thời đại, Việt Nam tiếp tục biến khát vọng thành hành động, quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, văn minh và hạnh phúc./.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV, 2026.

2. Cục Thống kê, Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025; Một số nét chính tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, tháng 01/2026.

 

 

[1] ThS, GVC Khoa Xây dựng Đảng

Các tin đã đăng