Nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam

Cập nhật: 26/08/2026 10:30

ThS. Nguyễn Thị Hoa
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

Lịch sử dựng nước và giữ nước đầy hào hùng, oanh liệt của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển một nền nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc. Đây là sự kết tinh của kinh nghiệm đấu tranh, trí tuệ, bản lĩnh, lòng yêu nước và ý chí tự lực, tự cường của dân tộc trong quá trình chống lại các thế lực ngoại xâm. Đặc điểm nổi bật xuyên suốt là khả năng thích ứng, sáng tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Nghiên cứu nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Nghệ thuật toàn dân đánh giặc

Một đặc điểm nổi bật của nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam là phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp giữ nước, kết hợp lực lượng rộng khắp với những hình thức tác chiến linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể.

Đặc điểm này đã xuất hiện từ rất sớm. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tần (214 - 208 tr.CN), trước thế mạnh của địch, người Việt đã dựa vào địa hình rừng núi, tổ chức đánh du kích, phục kích, tập kích ban đêm, từng bước tiêu hao sinh lực và làm suy yếu quân địch trước khi chuyển sang phản công. Kết quả, cuộc chiến đấu mưu trí, dũng cảm của người Việt đã giành thắng lợi, đại phá quân Tần và giết được tướng cầm đầu Đồ Thư. “(Quân Tần) thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người, (nhà Tần) bèn phát những người bị đày đến đóng giữ”[1]. Thắng lợi của Kháng chiến chống Tần thể hiện tài trí và khả năng đánh giặc của người Việt trong buổi đầu lịch sử giữ nước.  Đây là biểu hiện sớm của tư tưởng lấy nhỏ đánh lớn, lấy địa hình và cách đánh linh hoạt để tạo ưu thế.

Trong thời kỳ Bắc thuộc, nghệ thuật toàn dân đánh giặc tiếp tục phát triển qua các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lý Bí, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan... Các cuộc khởi nghĩa đã biết huy động đông đảo nhân dân, xây dựng căn cứ ở những địa bàn hiểm yếu, kết hợp đánh du kích với tập kích, từng bước xây dựng lực lượng và mở rộng địa bàn hoạt động.

Thời Lê, Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là một điển hình tiêu biểu của nghệ thuật khởi nghĩa toàn dân trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân nghĩa và nghệ thuật “mưu phạt tâm công” của Nguyễn Trãi. Nghĩa quân Lam Sơn đã dựa vào nhân dân, từng bước xây dựng và phát triển lực lượng, mở rộng địa bàn hoạt động; kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận và ngoại giao, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, tạo thế và lực mới, tiến tới giành thắng lợi quyết định, kết thúc ách đô hộ của nhà Minh.

Đến thế kỷ XVIII, phong trào Tây Sơn thể hiện bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự truyền thống với nghệ thuật hành quân thần tốc, tiến công táo bạo, bất ngờ và tác chiến hiệp đồng quy mô lớn của Hoàng đế Quang Trung. Đặc biệt, cuộc tiến quân ra Bắc và chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa cho thấy khả năng tổ chức lực lượng, cơ động nhanh, đánh địch bất ngờ, tập trung lực lượng vào hướng quyết định và tạo thế áp đảo trong thời gian ngắn.

Có thể khái quát, nghệ thuật toàn dân đánh giặc thể hiện ở ba điểm cơ bản: huy động và tổ chức sức mạnh của nhân dân; dựa vào địa hình, cơ sở và thế trận rộng khắp; kết hợp nhiều hình thức tác chiến để tiêu hao, tiêu diệt và làm suy yếu đối phương.

Đây là cơ sở hình thành truyền thống chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam, trong đó nhân dân vừa là chủ thể, vừa là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giữ nước.

Nghệ thuật khởi nghĩa

Nghệ thuật khởi nghĩa là một bước phát triển quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh chống ách đô hộ phong kiến phương Bắc. Điểm nổi bật là biết xây dựng lực lượng từ cơ sở, lựa chọn địa bàn và thời cơ thích hợp, chuyển từ hoạt động phân tán sang tiến công quy mô lớn để giành chính quyền.

Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ năm 931. Ông xây dựng căn cứ tại Ái Châu, nơi có địa hình thuận lợi cho việc bảo toàn và phát triển lực lượng, đồng thời lựa chọn đúng thời cơ để chủ động tiến công quân Nam Hán. Đặc biệt, việc đánh vào viện binh khi địch vừa đến, chưa kịp củng cố lực lượng, thể hiện khả năng nắm thời cơ, chủ động tiến công và đánh vào điểm yếu của đối phương.

Từ thực tiễn đó có thể khái quát nghệ thuật khởi nghĩa truyền thống ở các nội dung: xây dựng lực lượng từ cơ sở; lựa chọn căn cứ phù hợp; bí mật chuẩn bị lực lượng; chủ động tiến công khi có thời cơ; kết hợp đánh vào lực lượng tại chỗ với tiêu diệt viện binh.

Thắng lợi của Dương Đình Nghệ cho thấy nghệ thuật quân sự Việt Nam từng bước phát triển từ hình thức chiến đấu du kích, phân tán sang tổ chức lực lượng và tác chiến quy mô lớn, tạo tiền đề cho những bước phát triển cao hơn trong các thời kỳ tiếp theo.

Nghệ thuật vận dụng mưu kế đánh giặc

Mưu kế, nghi binh, tạo thế, tạo thời và lợi dụng điều kiện tự nhiên là nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam. Bạch Đằng năm 938 dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền là một điển hình tiêu biểu.

Trước nguy cơ quân Nam Hán xâm lược, Ngô Quyền chủ động tiêu diệt Kiều Công Tiễn, làm mất chỗ dựa bên trong của đối phương. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, ông lựa chọn cửa sông Bạch Đằng làm địa điểm quyết chiến, lợi dụng quy luật thủy triều và bố trí trận địa cọc ngầm để tạo thế bất lợi cho quân địch.

Nét đặc sắc nhất là nghệ thuật nghi binh và nhử địch vào trận địa đã chuẩn bị. Quân ta sử dụng thuyền nhỏ khiêu chiến, giả thua để dụ quân Nam Hán tiến sâu vào trận địa. Khi thủy triều rút, quân ta đồng loạt tiến công từ nhiều hướng, kết hợp lực lượng mai phục hai bên bờ với lực lượng thủy quân, đẩy quân địch vào thế bị động và tiêu diệt phần lớn lực lượng xâm lược.

Từ trận Bạch Đằng có thể khái quát đặc điểm này thành: Biết địch, biết ta; lựa chọn đúng địa bàn quyết chiến; tạo thế, tạo thời; nghi binh, nhử địch; lợi dụng địa hình, địa vật và quy luật tự nhiên; tập trung lực lượng đánh vào thời điểm quyết định.

Đây là biểu hiện rõ nét của tư duy quân sự Việt Nam: Không đối đầu trực diện với ưu thế của địch khi chưa có điều kiện, mà tìm cách chuyển hóa thế yếu thành thế mạnh, tạo bất ngờ và giành quyền chủ động trên chiến trường.

Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao

Đây là một trong những đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam. Trước những đối thủ có ưu thế lớn về lực lượng và tiềm lực, ông cha ta không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà biết phát huy sức mạnh tổng hợp của các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp tiến công với phòng ngự, tiêu hao với tiêu diệt, quân sự với binh vận và ngoại giao.

Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý, Lý Thường Kiệt đã chủ động thực hiện kế sách “tiên phát chế nhân”, tiến công vào các căn cứ hậu cần của địch để phá thế chuẩn bị xâm lược, sau đó nhanh chóng rút quân về nước chuẩn bị kháng chiến. Khi quân Tống tiến sang, nhà Lý tổ chức phòng tuyến Như Nguyệt, phối hợp các lực lượng, từng bước làm suy yếu quân địch, chuyển từ phòng ngự sang phản công và buộc địch phải rút quân.

Đồng thời, nhà Lý kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao. Việc đoàn kết toàn dân, liên kết với các tù trưởng miền núi, khơi dậy ý chí độc lập, chủ quyền và chủ động mở đường giảng hòa khi quân địch đã suy yếu cho thấy tư duy sử dụng sức mạnh tổng hợp để đạt mục tiêu chiến lược.

Đến thời Trần, nghệ thuật lấy yếu chống mạnh được phát triển lên trình độ cao hơn trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên. Trước ưu thế vượt trội của địch, nhà Trần chủ trương bảo toàn lực lượng, tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, từng bước chuyển hóa thế trận, tiêu hao sinh lực và làm suy giảm khả năng chiến đấu của địch, sau đó lựa chọn thời cơ phản công quyết định.

Trong các cuộc kháng chiến năm 1258 và 1285, quân dân nhà Trần nhiều lần chủ động rút khỏi những địa bàn quan trọng, thực hiện kế “thanh dã”: Khi quân địch vào thành “Cả kinh thành vắng lặng, cung điện, lầu gác không một bóng người. Nhà Sử Nguyên chép: “Cung thất đều trống không, chỉ còn những tờ chiếu sắc mấy lần gửi sang và điệp văn của trung thư (tức cơ quan trung ương của triều Nguyên - TG) đều bị xoá bỏ. Ngoài ra còn có một số giấy tờ đều là của các biên tướng nam bắc báo cáo tin tức và tình hình chống địch”[2]. Kế sách này nhằm bảo toàn lực lượng và làm cho quân địch rơi vào tình trạng thiếu lương thực, mệt mỏi, bị động. Khi thời cơ xuất hiện, quân Trần tổ chức phản công ở nhiều hướng, giành thắng lợi quyết định. Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba, nghệ thuật tạo thế, điều địch theo ý định của ta và hiệp đồng lực lượng được phát triển đến đỉnh cao trong trận Bạch Đằng năm 1288.

Trên mặt trận chính trị, nhà Trần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân thông qua Hội nghị Diên Hồng, Hội nghị Bình Than, động viên tinh thần quyết chiến, quyết thắng và thực hiện chính sách “khoan thư sức dân”, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho kháng chiến. Trên mặt trận ngoại giao, thực hiện chính sách mềm dẻo, khôn khéo trước, trong và sau chiến tranh, góp phần hạn chế và chấm dứt chiến tranh.

Như vậy, đặc điểm “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” không đơn thuần là cách thức tác chiến mà là một hệ thống tư duy quân sự tổng hợp, trong đó lấy con người và chính nghĩa làm nền tảng; lấy thế, thời, mưu, địa hình và cách đánh để tạo ưu thế; kết hợp chặt chẽ sức mạnh quân sự với chính trị, ngoại giao và sức mạnh toàn dân.

Tóm lại, nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, là sự kết tinh của lòng yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần tự lực, tự cường và trí tuệ sáng tạo của dân tộc. Những đặc điểm cơ bản như nghệ thuật toàn dân đánh giặc; nghệ thuật khởi nghĩa; nghệ thuật vận dụng mưu kế; nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh và kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao đã tạo nên bản sắc riêng của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Xuyên suốt các thời kỳ lịch sử có thể khái quát thành một số giá trị cốt lõi: lấy chính nghĩa làm nền tảng; lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh; lấy trí tuệ và mưu lược để thắng sức mạnh vật chất; lấy thế, thời và cách đánh để chuyển hóa tương quan lực lượng; kết hợp sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị, ngoại giao và sức mạnh toàn dân.

Trong giai đoạn hiện nay, kế thừa và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những giá trị đó tiếp tục là cơ sở để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ trong tình hình mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2021.

2- Viện lịch sử quân sự: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 1 Buổi đầu giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024, tr. 454.

3- Viện lịch sử quân sự: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 4, Hoạt động quân sự thời Trần (1226 - 1400), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024.

 

 

[1] Viện lịch sử quân sự: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 1 Buổi đầu giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024, tr. 454.

[2] Viện lịch sử quân sự: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 4 Hoạt động quân sự thời Trần (1226 -1400), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024, tr. 454.

 

Các tin đã đăng