Kỷ niệm 726 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1300 - 2026) và Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc

Cập nhật: 08/09/2026 10:45

                    Nguyễn Thị Mai
 
Khoa Nhà nước và Pháp luật

Trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sinh ra không ít bậc anh hùng, nhưng tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vẫn được khắc ghi như một biểu tượng bất diệt của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần yêu nước. Năm 2026, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm tròn 726 năm ngày Hưng Đạo Vương về cõi vĩnh hằng (ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý 1300, tức ngày 5/9/1300). Với nhân dân cả nước, nhất là nhân dân vùng đất Vạn Kiếp - Kiếp Bạc, đây là dịp thành kính tri ân công đức tiền nhân. Còn với mỗi cán bộ, đảng viên, giảng viên và học viên Trường Chính trị Tô Hiệu, đó cũng là dịp soi lại những giá trị tư tưởng chính trị, quân sự sâu sắc mà Người để lại. Nhiều bài học trong số đó đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1. Thân thế và con đường trở thành bậc "quốc công tiết chế"

Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228, là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, thuộc dòng dõi tôn thất nhà Trần. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã nổi tiếng là người dung mạo khôi ngô, tư chất thông minh hơn người, ham đọc sách, thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Ông lớn lên đúng vào lúc đế quốc Mông - Nguyên đang bành trướng thế lực khắp lục địa Á - Âu. Chính hoàn cảnh lịch sử đầy biến động ấy đã khiến ông sớm ý thức được trọng trách của bản thân trước vận mệnh quốc gia.

Ông phò tá bốn đời vua Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông. Trong quan hệ gia tộc từng có những uẩn khúc riêng, song lợi ích quốc gia, dân tộc bao giờ cũng được Trần Quốc Tuấn đặt lên trên hết. Ông gạt bỏ hiềm khích cá nhân, một lòng phò tá triều đình, nhờ vậy được các vua Trần hết mực tin dùng, giao giữ chức Quốc công Tiết chế, tức Tổng chỉ huy quân đội Đại Việt, thống lĩnh toàn quân trong cả ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông.

2. Ba lần đánh bại đế chế quân Mông Nguyên

Chỉ trong vòng 30 năm (1258 - 1288), quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần đã ba lần phải đương đầu với các cuộc xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên. Đó là đội quân từng chinh phục gần như toàn bộ lục địa Á - Âu, khiến nhiều quốc gia hùng mạnh phải khuất phục.

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258): dưới sự lãnh đạo trực tiếp của vua Trần Thái Tông, quân dân Đại Việt đã đánh bại đội quân Mông Cổ, giữ vững nền độc lập, mở ra hơn một phần tư thế kỷ hòa bình cho đất nước.

Cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285): trước thế giặc mạnh với 50 vạn quân do Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt, cầm đầu, vua Trần Thánh Tông đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng để hỏi ý chí của các bô lão trong cả nước "nên đánh hay nên hòa". Khí thế "Sát Thát" dâng cao ngút trời, toàn dân đồng lòng quyết chiến. Trên cương vị Quốc công Tiết chế, Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy quân đội, thực hiện chiến lược "vườn không nhà trống", chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng rồi chờ thời cơ phản công. Các mũi tiến công của địch lần lượt bị bẻ gãy, cuối cùng đại quân Nguyên phải rút chạy trong thảm bại.

Cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287 - 1288): đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng lịch sử ngày 9/4/1288 (tức ngày 8/3 năm Mậu Tý). Vận dụng sáng tạo kế sách của Đức vương Ngô Quyền năm 938, Trần Quốc Tuấn cho quân đóng cọc gỗ bịt sắt xuống lòng sông Bạch Đằng, nhử đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi vào trận địa mai phục lúc nước triều lên, đợi khi triều rút thì đánh úp. Toàn bộ đạo thủy binh hùng mạnh của quân Nguyên bị tiêu diệt, tướng giặc Ô Mã Nhi bị bắt sống. Mộng xâm lăng Đại Việt của đế quốc Nguyên - Mông chấm dứt hoàn toàn từ đó.

Ba lần đại thắng ấy là những chiến công quân sự lừng lẫy, đồng thời kết tinh những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam: lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, biết chọn đúng thời cơ và biết dựa vào thế trận lòng dân để tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại kẻ thù xâm lược.

3. Di sản tư tưởng quân sự - chính trị còn mãi với thời gian

Trần Quốc Tuấn không chỉ là một nhà cầm quân tài ba. Ông còn để lại cho hậu thế cả một hệ thống tư tưởng quân sự, chính trị đặc sắc, kết tinh trong những trước tác nổi tiếng như "Hịch tướng sĩ", "Binh thư yếu lược", "Vạn Kiếp tông bí truyền thư".

"Hịch tướng sĩ" được viết bằng lời lẽ đanh thép mà vẫn thấm đẫm tình cảm. Qua bài hịch, ông khơi dậy trong tướng sĩ lòng căm thù giặc, ý chí tự cường và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Tác phẩm về sau trở thành áng văn chính luận bất hủ trong lịch sử văn học và tư tưởng quân sự dân tộc.

Đáng nhớ hơn cả là những lời ông dặn lại trước lúc lâm chung tại phủ đệ Vạn Kiếp. Khi vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi kế sách giữ nước, ông căn dặn phải "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc", tức là coi việc chăm lo, bồi dưỡng sức dân mới là thượng sách giữ nước lâu dài, bền vững. Ông cũng nhắc rằng nghệ thuật dùng binh phải tùy thời mà biến hóa, "tùy thời tạo thế", chớ câu nệ vào một binh pháp cứng nhắc; cùng với đó là phải xây dựng quân đội đoàn kết như cha con một nhà, trên dưới một lòng.

Giá trị của những tư tưởng ấy vượt ra ngoài phạm vi nghệ thuật quân sự. Ẩn sau đó là một triết lý sâu sắc về mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân, triết lý mà tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta sau này đã kế thừa, phát triển thành quan điểm "lấy dân làm gốc", "dân là gốc của nước".

4. Đền Kiếp Bạc và Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc

Sau khi Trần Quốc Tuấn mất, triều đình nhà Trần truy phong ông là Thái sư Thượng phụ, Thượng Quốc công, Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân Đại Việt tôn kính suy tôn Người là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ngay trên nền vương phủ xưa ở Vạn Kiếp. Ngôi đền ấy chính là đền Kiếp Bạc, nay thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Hằng năm, cứ đến tháng 8 âm lịch, nơi đây lại mở Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc với chuỗi nghi lễ trang nghiêm, giàu bản sắc văn hóa dân tộc: lễ dâng hương, lễ tế cáo yết, lễ rước bộ, lễ tế và giỗ Đức Thánh Trần, lễ khai ấn và ban ấn đền Kiếp Bạc, lễ cầu an, hội hoa đăng, cùng liên hoan diễn xướng hầu Thánh, một loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Trong hệ thống lễ hội truyền thống của dân tộc, đây là một trong những lễ hội có quy mô lớn và ý nghĩa tâm linh sâu sắc bậc nhất. Lễ hội thu hút đông đảo nhân dân, du khách thập phương về chiêm bái, tri ân công đức tiền nhân, qua đó góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, phát huy giá trị của quần thể di sản Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.

5. Ý nghĩa giáo dục đối với công tác xây dựng Đảng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý báu, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay:

Thứ nhất, bài học về đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, dòng tộc. Việc Trần Quốc Tuấn gạt bỏ hiềm khích riêng để một lòng phò vua giúp nước là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần "dĩ công vi thượng" mà mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay cần noi theo.

Thứ hai, bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Một dân tộc không đông người, không nhiều của đã đánh bại đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Điều đó là minh chứng sống động cho chân lý: sức mạnh của một dân tộc bắt nguồn từ sự đồng lòng, đoàn kết, "trên dưới một dạ, cha con một lòng".

Thứ ba, bài học về tư tưởng trọng dân, lấy dân làm gốc. "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc" là bài học kinh điển về mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân. Bài học ấy nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, nhất là cán bộ ở cơ sở, phải luôn gần dân, hiểu dân, chăm lo đời sống nhân dân trong từng chủ trương, chính sách cụ thể.

Thứ tư, bài học về bản lĩnh, trí tuệ và sự linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn. Nghệ thuật "tùy thời tạo thế", biết lúc cương lúc nhu, biết chọn đúng thời cơ hành động của Trần Quốc Tuấn là gợi ý quý báu cho công tác lãnh đạo, quản lý hôm nay, khi tình hình luôn biến động và đòi hỏi ở đội ngũ cán bộ bản lĩnh cùng tư duy đổi mới, sáng tạo.

Lời kết

Kỷ niệm 726 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên Trường Chính trị Tô Hiệu càng thêm tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc, thêm trân trọng những giá trị tư tưởng chính trị, quân sự mà tiền nhân để lại. Niềm tự hào ấy cần được chuyển hóa thành việc làm cụ thể: ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với truyền thống của vùng đất địa linh nhân kiệt.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, "Chủ tịch Quốc hội đánh trống khai hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2025", Báo Nhân Dân điện tử, 12/10/2025.

2. "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh trống khai hội Côn Sơn - Kiếp Bạc", VietNamNet, 12/10/2025.

3. "Tưởng niệm ngày mất Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và khai hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc", Báo Pháp luật Việt Nam, 18/9/2024.

4. "Tưởng niệm 724 năm ngày mất Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và khai hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc 2024", Báo Đại biểu Nhân dân, 18/9/2024.

5. Đặng Việt Thủy, "Nhìn lại trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288", Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, 2018.

6. "Côn Sơn - Kiếp Bạc: Dấu ấn oai hùng của dân tộc", Tạp chí Công Thương, 2024.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Lịch sử lớp 7, Bài 17: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên.

8. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch).

 

 

Các tin đã đăng