PHẠM NGUYỆT ÁNH[1]
1. Mở đầu
Trong dòng chảy lịch sử nhân loại, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội luôn bắt nguồn từ những chuyển biến sâu sắc của lực lượng sản xuất. C. Mác đã từng khẳng định: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào"[2]. Ngày nay, thế giới đang chứng kiến một sự chuyển hóa về chất của nền sản xuất xã hội dưới tác động của công nghệ số. Đại hội XIV của Đảng đã xác định một tầm nhìn chiến lược về "Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được coi là động lực trung tâm. Việc nghiên cứu lực lượng sản xuất hiện đại từ nhãn quan triết học Mác - Lênin không chỉ giúp làm rõ bản chất của chuyển đổi số mà còn cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
2. Sự biến đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam trong thời đại số hóa
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là tổng hợp các sức mạnh hiện thực mà con người sử dụng để chinh phục và cải biến giới tự nhiên,. Cấu trúc của lực lượng sản xuất bao gồm hai yếu tố cơ bản: người lao động và tư liệu sản xuất (trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất).
Lực lượng sản xuất không đứng yên mà luôn vận động mang tính khách quan. Mỗi thế hệ kế thừa những lực lượng sản xuất từ thế hệ trước như một "điều kiện có sẵn" và tiếp tục phát triển chúng thông qua hoạt động thực tiễn. Trong quá trình này, khoa học dần trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", thâm nhập vào mọi yếu tố của sản xuất vật chất, làm thay đổi căn bản năng suất và hiệu quả lao động. Sự chuyển dịch từ sản xuất thủ công sang công nghiệp cơ khí trong thế kỷ XIX và nay là sang sản xuất số chính là sự cụ thể hóa quy luật vận động này.
Lực lượng sản xuất hiện đại ngày nay được nhận diện qua khái niệm lực lượng sản xuất số. Đây không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất mà là một sự "biến đổi mang tính cấu trúc".
Thứ nhất, tư liệu sản xuất mới có sự biến đổi từ máy móc hữu hình đến dữ liệu và thuật toán
Nếu trong kỷ nguyên công nghiệp, tư liệu sản xuất chính là nhà xưởng, máy móc cơ khí và năng lượng hóa thạch, thì trong kỷ nguyên số, cấu trúc này đã thay đổi cốt lõi. Dữ liệu đã trở thành một loại tư liệu sản xuất mới, là tài sản thiết yếu và là phương tiện để doanh nghiệp ra quyết định. Các công nghệ như Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn không còn là yếu tố hỗ trợ mà trở thành "tư liệu sản xuất đặc biệt", giữ vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Không gian số trở thành môi trường sản xuất mới, nơi các thuật toán và nền tảng hạ tầng mạng đóng vai trò là công cụ lao động "nối dài" trí tuệ con người.

Ứng dụng robot công nghiệp trong các nhà máy ở Việt Nam (nguồn: baochinhphu.vn)
Thứ hai, sự lên ngôi của tri thức và kỹ năng sáng tạo ở người lao động
Trong lực lượng sản xuất, con người luôn là yếu tố quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, người lao động đang chuyển dịch mạnh mẽ từ lao động cơ bắp sang lao động số và lao động dựa trên tri thức. Người lao động hiện đại không chỉ vận hành máy móc mà còn phải có khả năng khai thác tài nguyên số, phân tích dữ liệu và sáng tạo giải pháp công nghệ. Tri thức và "trí tuệ tập thể" trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, biến tư bản trí tuệ thành động lực tăng trưởng chủ yếu thay thế cho tư bản công nghiệp truyền thống. Điều này đòi hỏi một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi "xét đến cùng, trong lực lượng sản xuất của xã hội thì nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Kết nối nguồn nhân lực chất lượng cao với doanh nghiệp (nguồn: baohaiphong.vn)
Thứ ba, biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bối cảnh số hóa
Triết học Mác - Lênin chỉ rõ: Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, và quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Quan hệ sản xuất phải không ngừng được điều chỉnh để phù hợp với trình độ ngày càng cao của lực lượng sản xuất"[3].
Khi lực lượng sản xuất dịch chuyển sang hướng số hóa, các yếu tố của quan hệ sản xuất cũng phải tái cấu trúc. Quan hệ sở hữu không còn bó hẹp trong các tài sản vật chất hữu hình mà mở rộng sang quyền sở hữu và khai thác dữ liệu, thuật toán và tài sản trí tuệ. Quan hệ quản lý cũng chuyển từ mô hình tập trung, mệnh lệnh sang các mô hình liên kết mở, linh hoạt dựa trên nền tảng số và thời gian thực. Đặc biệt, quan hệ phân phối lợi ích hiện nay gắn chặt với quyền sở hữu công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.
Sự xuất hiện của phương thức sản xuất số là tất yếu khách quan. Tại Việt Nam, chuyển đổi số được nhìn nhận là một cuộc cách mạng mạnh mẽ, toàn diện nhằm điều chỉnh quan hệ sản xuất và giải phóng lực lượng sản xuất. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”[4]. Đây không chỉ là vấn đề đơn thuần của khoa học, công nghệ mà là vấn đề chiến lược về thể chế, đòi hỏi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều tiết để bảo đảm sự phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Văn kiện Đại hội XIV đã xác lập một mô hình tăng trưởng mới dựa trên bốn trụ cột: “Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm của phát triển”[5].
Việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại chính là nền tảng để thực hiện khát vọng "Việt Nam vươn mình". Kỷ nguyên mới yêu cầu một nền sản xuất không chỉ mạnh về năng suất mà còn phải tự chủ về chiến lược, đặc biệt là chủ quyền số và an ninh dữ liệu. Chỉ khi lực lượng sản xuất được nâng cấp trên nền tảng số, nền kinh tế mới có khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nâng cao năng suất lao động xã hội một cách bền vững.
Đảng ta nhận diện rõ mâu thuẫn giữa yêu cầu của lực lượng sản xuất mới với cách thức tổ chức sản xuất cũ. Sự không thích ứng của các thiết chế truyền thống với sản xuất dựa trên nền tảng và dữ liệu chính là điểm nghẽn cần tháo gỡ bằng các cải cách thể chế mạnh mẽ,. Chuyển đổi số, vì vậy, là hình thức vật chất - kinh tế của ý chí chính trị đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu.
3. Kết luận
Từ quan điểm của triết học Mác - Lênin có thể nhận thấy lực lượng sản xuất hiện đại ngày nay chính là lực lượng sản xuất đang ngày càng số hóa với những đặc trưng hoàn toàn mới về tư liệu sản xuất và chủ thể lao động. Việc nhận diện đúng tính chất của sự biến đổi này giúp chúng ta thấy rõ tính tất yếu của chuyển đổi số tại Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần tập trung phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu quốc gia và đặc biệt là không ngừng đổi mới quan hệ sản xuất, thể chế quản trị để "mở đường" cho lực lượng sản xuất hiện đại phát triển như khẳng định tại Đại hội XIV. Đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đưa Việt Nam bứt phá, giàu mạnh.
[1] ThS, GVC khoa Lý luận cơ sở
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.23, tr.269.
[3]Tô Lâm: Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, https://tapchicongsan.org.vn, ngày 02-9-2024.
[4]Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[5]ĐCSVN: Khai mạc đại hội XIV - Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, https://baochinhphu.vn, ngày 20-01-2026.