ThS. Nguyễn Thị Nga
Khoa Lý luận cơ sở
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Thực hành sinh ra lý luận. Lý luận tiến lên thành khoa học. Lý luận lại quay về thực hành” (1). Đối với hệ thống các trường chính trị, lý luận chỉ thực sự phát huy đầy đủ sức mạnh và giá trị khi được thẩm thấu, kiểm chứng qua thực tiễn của địa phương. Trong bối cảnh hiện nay, khi thành phố Hải Phòng cùng cả nước đang tập trung đổi mới, tinh gọn bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, áp lực thực thi công vụ đặt lên vai đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ngày càng lớn. Yêu cầu đó đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại Trường Chính trị Tô Hiệu phải có bước chuyển mình mạnh mẽ, chuyển nhanh từ truyền thụ tri thức đơn thuần sang "huấn luyện cán bộ bằng tình huống thực tiễn sát với đối tượng người học" theo đúng tinh thần chỉ đạo của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hành lang pháp lý từ Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG. Đội ngũ giảng viên không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên môn, lý luận mà còn phải thường xuyên bổ sung, cập nhật và làm giàu vốn kiến thức thực tiễn giúp bài giảng có cơ sở thực tế, sinh động và phù hợp với những vấn đề đang đặt ra ở cơ sở. Do đó, công tác đưa giảng viên đi nghiên cứu thực tế có kỳ hạn trở thành một giải pháp căn cốt, mang tính chiến nhằm tăng cường sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay.
Từ thực tiễn của bản thân sau 1 tháng nghiên cứu thực tế có kỳ hạn tại Phòng Kinh tế, UBND phường Lê Thanh Nghị, tôi càng thấy rõ hơn bao giờ hết ý nghĩa to lớn và giá trị thực sự của giải pháp căn cốt này. Chính sự thâm nhập trực tiếp đã giúp giảng viên tích lũy được những "nguyên liệu" tri thức đắt giá, củng cố bản lĩnh, tư duy chính sách và rèn luyện năng lực "thực chiến" - điều mà không một cuốn giáo trình lý luận nào có thể thay thế. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, bài viết nhằm phân tích chiều sâu lý luận, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp khả thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
1. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và những đòi hỏi mới đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị
Việc sắp xếp các đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một bước đột phá trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước tại Việt Nam, hướng tới sự tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Việc chấm dứt hoạt động của chính quyền địa phương cấp huyện đòi hỏi cấp xã phải đảm nhiệm nhiều chức năng, nhiệm vụ phức tạp hơn trước đây vốn thuộc thẩm quyền của cấp trên. Vì vậy, cấp xã không còn chỉ là “cấp cơ sở” theo nghĩa hành chính truyền thống, mà trở thành cấp thực thi trực tiếp, cấp phục vụ trực tiếp và cấp phản hồi chính sách trực tiếp trong hệ thống chính quyền địa phương.
Thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong thời gian gần đây cho thấy cấp xã đang trở thành “tuyến đầu” trong quản trị nhà nước ở cơ sở. Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, khoảng 1.065 nhiệm vụ từ cấp tỉnh và cấp huyện đã được chuyển giao xuống cấp xã. Việc giảm tầng nấc trung gian đòi hỏi cấp xã phải đảm nhiệm tới 86% số nhiệm vụ vốn thuộc thẩm quyền cấp huyện trước dây, đồng thời phải thích ứng với môi trường chuyển đổi số. Việc gia tăng mạnh mẽ số lượng nhiệm vụ này phản ánh xu hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng khả năng phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, từ thực tiễn vận hành cho thấy, việc bỏ cấp trung gian đồng nghĩa với việc toàn bộ áp lực quản lý nhà nước, giải quyết thủ tục hành chính và trực tiếp xử lý các bài toán kinh tế - xã hội đều tập trung dồn về cấp xã. Đồng thời, yêu cầu triển khai quyết liệt các nhiệm vụ chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đòi hỏi bộ máy cơ sở phải thực thi công vụ theo phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền trên môi trường điện tử.
Bối cảnh thực tiễn đó đã và đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tại Trường Chính trị Tô Hiệu. Nếu người giảng viên chỉ đứng trên bục giảng với những tri thức lý thuyết thuần túy về các kiến thức quản lý nhà nước hay đường lối chung chung thì bài học sẽ trở nên xơ cứng, không thể “chạm tới” những trăn trở, vướng mắc hàng ngày của người học. Đội ngũ học viên, nhất là cán bộ, công chức cấp xã đến lớp không chỉ để tiếp thu lý luận mà quan trọng hơn là tìm kiếm phương pháp luận khoa học và giải pháp thực tiễn để giải quyết các tình huống tại địa phương. Do đó, giảng viên cần phải trang bị cho mình “năng lực thực chiến”. Năng lực thực chiến ở đây chính là sự am hiểu cặn kẽ quy trình vận hành của bộ máy chính quyền cơ sở, khả năng nhận diện chính xác các rào cản thể chế, cơ chế quản lý, cũng như kỹ năng phân tích và đưa ra giải pháp xử lý tình huống phát sinh trong thực tế một cách chuẩn xác, đúng quy định pháp luật và thấu tình đạt lý.
2. Giá trị, ý nghĩa của nghiên cứu thực tế có kỳ hạn đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - từ thực tiễn trải nghiệm của giảng viên
Nghiên cứu thực tế có kỳ hạn là một quá trình thâm nhập thực tiễn toàn diện, không chỉ giúp giảng viên đổi mới tư duy mà còn tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa lý luận bài giảng với thực tế quản trị tại địa phương. Từ thực tiễn đợt nghiên cứu thực tế tại phường Lê Thanh Nghị, giảng viên càng thấy rõ hơn giá trị, ý nghĩa của hoạt động này:
- Nâng cao năng lực "thực chiến" và làm sâu sắc thêm tri thức lý luận cho đội ngũ giảng viên
Nghiên cứu thực tế có kỳ hạn trước hết tạo ra bước chuyển căn bản cho giảng viên từ tư duy lý luận thuần túy sang lý luận gắn liền với thực tiễn. Việc trực tiếp tham gia vào công việc hằng ngày của chính quyền cơ sở giúp giảng viên bước ra khỏi phạm vi trang sách, tiếp cận trực tiếp với các quy trình quản lý, sự vận hành của bộ máy hành chính công cũng như các điểm nghẽn thực tế phát sinh tại địa phương.
Từ nghiên cứu thực tế tại phường Lê Thanh Nghị, những nội dung lý luận về nhà nước pháp quyền, phân cấp phân quyền hay cải cách hành chính vốn mang tính trừu tượng đã được làm sáng tỏ một cách sinh động. Giảng viên đã được thấu hiểu áp lực vận hành thực tế của bộ máy chính quyền khi phải quản lý địa bàn rộng 8,04 km² với hơn 81.000 dân, 21 tổ dân phố và hệ thống 65 tổ chức Đảng gồm 6.338 đảng viên. Việc trực tiếp thâm nhập vào các quy trình nghiệp vụ hành chính công như xử lý văn bản trên hệ thống HPNet hay rà soát hợp đồng kinh tế đã giúp làm sáng tỏ bản chất của từng chính sách. Quá trình này giúp giảng viên nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong công tác giải phóng mặt bằng, việc xử lý khối lượng lớn tài sản công dôi dư sau sáp nhập hay tình trạng hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ ở cơ sở. Quan trọng hơn cả, đợt nghiên cứu thực tế chính là giải pháp cốt lõi giải bài toán thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn, giúp giảng viên khắc phục tình trạng giảng đường xa rời thực tế hay phương pháp giảng dạy mang tính máy móc, kinh viện.
- Trực tiếp nâng cao chất lượng, tính thuyết phục và thực tiễn trong từng bài giảng
Giá trị thực tiễn từ đợt nghiên cứu nhanh chóng được hiện hữu thông qua việc cập nhật “hơi thở” thực tế vào từng trang giáo án. Qua khoảng thời gian bám sát cơ sở tại phường Lê Thanh Nghị, giảng viên thu thập được nguồn tư liệu phong phú từ những số liệu kinh tế - xã hội hay những tình huống từ thực tế tại địa phương. Đây là tiền đề quan trọng để đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tương tác và giải quyết vấn đề. Nhờ hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn và áp lực thực tế mà người cán bộ cơ sở phải đối mặt, bài giảng của giảng viên không còn là sự truyền thụ lý thuyết một chiều. Giảng viên có thể linh hoạt tổ chức thảo luận nhóm về các tình huống, giúp học viên dễ dàng vận dụng vào thực tiễn công tác. Khi giảng viên nói bằng ngôn ngữ của thực tiễn, khoảng cách giữa giảng viên và học viên hoàn toàn bị xóa bỏ, giúp bài giảng nhận được sự phản hồi tích cực từ đội ngũ cán bộ đi học.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách, tổng kết thực tiễn
Môi trường thực tế đóng vai trò như một kho đề tài phong phú giúp giảng viên phát hiện đúng và trúng các vấn đề nghiên cứu khoa học. Trải nghiệm thực tế giúp giảng viên nhận diện rõ những vướng mắc về mặt thể chế, sự bất cập trong năng lực thực thi hay các vấn đề phát sinh sau sáp nhập. Đây chính là chất liệu quan trọng để giảng viên đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp đồng thời viết các bài tham luận hội thảo có giá trị thực tiễn cao.
Bên cạnh đó, hoạt động này đóng góp trực tiếp vào công tác tổng kết thực tiễn của nhà trường và địa phương. Giảng viên đi thực tế không chỉ dừng lại ở việc học hỏi mà còn đóng vai trò là cầu nối tri thức. Thông qua việc tham gia góp ý trực tiếp vào các văn bản ở địa phương, giảng viên đã đưa ra các kiến nghị, giải pháp có tính khả thi đồng thời đóng góp cho công tác tham mưu, tư vấn chính sách của nhà trường gửi đến cấp ủy và chính quyền các cấp.
- Góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tình hình mới
Xét trên cấp độ tổ chức, nghiên cứu thực tế có kỳ hạn là phương thức hữu hiệu góp phần chuẩn hóa và nâng tầm đội ngũ giảng viên trường chính trị, hướng tới xây dựng đội ngũ giảng viên vừa hồng vừa chuyên, vững vàng về tri thức lý luận và am hiểu sâu sắc thực tiễn. Những kinh nghiệm, tư liệu thực tế tích lũy được từ quá trình nghiên cứu, thâm nhập thực tiễn đã được giảng viên chuyển hóa trực tiếp vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường.
Quan trọng hơn, kết quả này trực tiếp đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới. Trước những đòi hỏi cấp bách của thời kỳ chuyển đổi, chất lượng bài giảng được nâng cao từ thực tiễn của giảng viên sẽ góp phần trực tiếp đào tạo nên đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ ngày càng cao trong bối cảnh mới.
3. Một số giải pháp phát huy hiệu quả công tác nghiên cứu thực tế có kỳ hạn của giảng viên thời gian tới
Để hoạt động nghiên cứu thực tế có kỳ hạn thực sự trở thành giải pháp căn cốt, nâng cao bền vững năng lực thực chiến cho giảng viên, trong thời gian tới cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, đối với Trường Chính trị Tô Hiệu: nhà trường cần tiếp tục cụ thể hóa và hoàn thiện quy chế đưa giảng viên đi nghiên cứu thực tế có kỳ hạn theo đúng tinh thần Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đảm bảo tính kế hoạch, bài bản và đúng đối tượng. Đặc biệt, nhà trường cần nghiên cứu xây dựng và số hóa “Kho dữ liệu thực tiễn và ngân hàng tình huống dùng chung” dựa trên việc tích hợp các báo cáo thu hoạch, hồ sơ tình huống do giảng viên thu thập sau các đợt đi thực tế. Đây sẽ là nguồn tài nguyên tri thức dùng chung vô cùng quý giá cho toàn thể cán bộ, giảng viên khai thác phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, đối với bản thân mỗi giảng viên, cần xác định nghiên cứu thực tế là cơ hội để tự rèn luyện và nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp, tuyệt đối loại bỏ tư duy đi thực tế mang tính hình thức, "cưỡi ngựa xem hoa" hay xem đây là thời gian nghỉ ngơi. Mỗi giảng viên khi đến cơ sở phải chủ động đặt mình vào vị trí của người trong cuộc, tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm từ cán bộ địa phương. Quan trọng hơn, sau khi kết thúc đợt nghiên cứu, giảng viên phải có cam kết rõ ràng về sản phẩm chuyển hóa: cập nhật ngay các tư liệu thực tiễn vào hồ sơ bài giảng, xây dựng các bài tập tình huống thực tế và công bố các bài báo khoa học chất lượng cao.
Thứ ba, đối với các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương tiếp nhận giảng viên, cần quan tâm phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc phân công công việc chuyên môn phù hợp. Tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên được tiếp cận các nguồn tài liệu, tham dự các cuộc họp giao ban, chỉ đạo chuyên đề và tham gia trực tiếp vào các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương. Sự đồng hành, tin tưởng và giao việc của chính quyền cơ sở chính là môi trường tốt nhất để giảng viên được rèn luyện, cọ xát và phát huy tối đa năng lực của mình.
Tóm lại, nghiên cứu thực tế có kỳ hạn là minh chứng rõ nét cho thấy tri thức lý luận chỉ thực sự có sức sống khi gắn liền với thực tiễn cơ sở. Quá trình thâm nhập thực địa không chỉ giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt kinh nghiệm thực tế của giảng viên, mà còn tạo ra nguồn tư liệu phong phú để nâng cao tính thuyết phục trong từng bài giảng. Quan trọng hơn, đợt nghiên cứu thực tế đã tạo ra giá trị kép: vừa hỗ trợ địa phương qua công tác tham mưu, tư vấn chính sách, vừa trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đó chính là thước đo cao nhất cho nỗ lực đổi mới, khẳng định giá trị cốt lõi: lý luận phải gắn liền với thực tiễn và phục vụ hiệu quả sự phát triển của địa phương.
Chú thích:
(1). Báo Nhân dân, số 17, ngày 19-7-1951