Những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013

Cập nhật: 19/11/2020 21:39

Th.s Trần Công Long, Khoa: Xây Dựng Đảng

1. Những thành tựu chủ yếu của đổi mới và phát triển giáo dục

- Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn với các cấp, bậc học, trình độ đào tạo, các loại hình và phương thức giáo dục.

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua.

 Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết là: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.

Mục tiêu tổng thể đặt ra trong nghị quyết số 29-NQ/TW đó là: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.

Sau 35 năm đổi mới, và qua hơn 6 năm thực thi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngành giáo dục Việt Nam đã được được nhiều thành tựu quan trọng, giáo dục nước ta đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Theo tinh thần của nghị quyết: Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo. Mạng lưới các trường phổ thông được xây dựng rộng khắp trên toàn quốc. Các trường, lớp trung tâm dạy nghề phát triển dưới nhiều hình thức, các lớp dạy nghề ngắn hạn phát triển mạnh. Các trường đại học và cao đẳng được thành lập ở hầu hết các khu dân cư lớn của cả nước, các vùng, các địa phương. Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, một số nơi đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Theo báo cáo của trung tâm truyền thông giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2017, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Chất lượng phổ cập ngày càng được nâng cao. Tháng 8/2018, Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện chính sách hỗ trợ miễn học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi và hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em diện phổ cập, nhất là đối với các thôn, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nhiều tỉnh thành phố các cấp chính quyền đã hỗ trợ học phí cho học sinh từ bậc học mầm non tới hết bậc phổ thông. Cơ sở vật chất kỹ thuật các trường được nâng cấp, cải thiện. Số trường lớp được xây dựng mới theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng. Đào tạo sau đại học được hình thành và phát triển vững chắc đang dần dần đảm đương trách nhiệm đào tạo cán bộ khoa học trình độ cao ở trong nước. Hệ thống giáo dục đã bước đầu được đa dạng hoá cả về loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hội nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới.

- Quy mô giáo dục đã được coi trọng, có giới hạn, chú trọng khâu đào tạo chất lượng và dạy nghề, bước đầu đáp ứng nhu cầu của xã hội, tránh tình trạng thừa thầy thiếu thợ như giai đoạn những năm trước

Cụ thể trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế của các cơ sở GDĐH Việt Nam ngày càng được cải thiện. Nếu như trước năm 2014, cả Việt Nam chỉ có duy nhất Đại học Quốc gia Hà Nội lọt vào bảng xếp hạng đại học châu Á của Tổ chức xếp hạng đại học QS[i] với vị trí trong nhóm 250 trường hàng đầu thì đến năm 2018, có 7 cơ sở GDĐH lọt top 500 của bảng xếp hạng đại học châu Á. Trong đó, Đại học Quốc gia Hà Nội xếp vị trí 124 của châu Á. Đặc biệt, năm 2018, lần đầu tiên lĩnh vực Vật lý của Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng 502 trên thế giới theo US News[ii].

Đến nay, Bộ GDĐT đã hoàn thành và ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tổ chức thực nghiệm chương trình môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương trình phổ thông mới thay đổi căn bản cách tiếp cận từ “theo nội dung” sang theo hướng “phát triển năng lực và phẩm chất”, dạy học “tích hợp” ở cấp dưới, dạy “phân hóa” ở cấp trên, tăng cường các môn tự chọn.

- Công bằng xã hội trong giáo dục về cơ bản được đảm bảo

Hệ thống giáo dục quốc dân đã tạo điều kiện cho đại bộ phận nhân dân trong độ tuổi đi học đạt trình độ xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, tiến tới phổ cập trung học phổ thông, tạo cơ hội và những điều kiện cơ bản để một bộ phận nhân dân được học ở các cấp bậc học cao hơn theo nhu cầu và khả năng, chú ý các khu vực đặc biệt khó khăn (vùng cao, vùng sâu, vùng xa), đối tượng là người dân tộc thiểu số, người nghèo và đối tượng chính sách xã hội. Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ sở và ở các bậc học cao đẳng và đại học. Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, người dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội ngày càng được chú trọng.

- Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được cải thiện

Trong những năm qua, kết hợp nhiều nguồn vốn, ngành Giáo dục và các địa phương đã cố gắng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của các nhà trường ở các cấp bậc học, tạo điều kiện để bảo đảm nâng cao chất lượng dạy và học.

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định sự nghiệp và chất lượng giáo dục. Trong những năm gần đây, điều kiện giáo dục và đời sống giáo viên được cải thiện, những đổi mới trong chính sách đối với giáo sinh đã thu hút ngày càng nhiều học sinh giỏi vào các trường sư phạm, mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên là những yếu tố tác động tích cực đến chất lượng đội ngũ nhà giáo.

Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục là 20% tổng chi ngân sách Nhà nước, chiếm 5% GDP cả nước[iii]. Đây là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục. Nhiều địa phương, bên cạnh ngân sách trung ương, còn có thêm từ ngân sách địa phương đầu tư cho giáo dục và đã có nhiều cố gắng cải tiến việc phân bổ, điều hành ngân sách; đồng thời huy động nguồn lực của nhân dân để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường, bảo đảm chất lượng dạy và học.

2. Những yếu kém của giáo dục nước ta

- Chất lượng và hiệu quả giáo dục nói chung còn thấp

Nhìn chung chất lượng giáo dục còn thấp. Chất lượng giáo dục thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền; do hậu quả thời gian dài chúng ta quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng. Hệ thống giáo dục thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối giữa các cấp học, ngành học, cơ cấu, trình độ, ngành nghề, vùng, miền. Việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, về truyền thống văn hoá, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân cho học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp; giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến "dạy chữ", chưa quan tâm đúng mức đến "dạy người", kỹ năng sống và "dạy nghề" cho thanh thiếu niên. Chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Nhà trường chưa quan tâm đúng mức hoặc chưa có biện pháp hữu hiệu giáo dục trách nhiệm người công dân, người lao động chân chính cho học sinh, sinh viên. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học chậm đổi mới; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp.

- Cơ cấu đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa hợp lý, đầu tư cho các bậc học chưa tương xứng.

Theo số liệu báo cáo chi ngân sách cho giáo dục giữa các bậc học có sự chưa tương xứng: Chi tiêu dành cho dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học, giáo dục thường xuyên chiếm 30% tổng chi cho giáo dục. Trong đó, chi cho đào tạo cao đẳng và đại học chiếm trên 12%[iv] Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, năng lực vận dụng những kiến thực được học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết cho hội nhập, khả năng thích ứng với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật còn hạn chế.

- Quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, đội ngũ giáo viên vừa yếu vừa thiếu và không đồng bộ, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới.

Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém và là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém khác. Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu; thiếu nhạy bén trong việc tham mưu với Ðảng và các cơ quan quản lý nhà nước về những vấn đề phức tạp mới nảy sinh; thiếu những quyết sách đồng bộ, hợp lý ở tầm vĩ mô để thúc đẩy phát triển giáo dục; một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội. Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và những khó khăn của đất nước đã ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp phát triển giáo dục.

Quản lý giáo dục yếu kém cả trong xây dựng thể chế, chỉ đạo điều hành, kiểm tra giám sát và xử lí vi phạm. Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước. đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và các cơ quan chủ quản, giữa quản lý giáo dục và đào tạo theo ngành và theo lãnh thổ. Việc tổ chức khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục còn nhiều bất cập và để xảy ra nhiều sai phạm.

Người thầy đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo, nhưng thực tế khi quy mô học sinh, sinh viên tăng nhanh đã gây nên sự bất cập giữa quy mô phát triển giáo dục với đội ngũ giáo viên, nhất là ở bậc mầm non và bậc đại học.

Có hiện tượng vừa thiếu, vừa thừa giáo viên do không có sự đồng bộ về loại hình. Rất nhiều địa phương có tổng biên chế giáo viên đủ, thậm chí thừa, nhưng lại thiếu những loại hình giáo viên như ngoại ngữ, âm nhạc, kỹ thuật. Sự hẫng hụt về giáo viên trình độ cao ở các trường đại học ngày càng gia tăng, tuổi trung bình của giáo viên cao.

Phương pháp giảng dạy chưa được cải tiến, phổ biến vẫn là lối dạy thầy truyền đạt, trò tiếp thu thụ động. Điều đó diễn ra không chỉ ở giáo dục phổ thông mà ngay cả ở đại học và sau đại học.

-  Cơ sở vật chất trường lớp còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nội dung giáo dục còn thiếu thiết thực.

Nhìn tổng thể các ngành có thể khẳng định cơ sở vật chất của ngành giáo dục vẫn còn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Trang thiết bị, phòng thí nghiệp phục vụ giảng dạy và học tập còn thiếu thốn, tình trạng dạy chay còn phổ biến. Số lượng máy tính còn ít, ở các vùng khó khăn, nhiều học sinh không có đủ sách giáo khoa.

 Điều kiện phục vụ việc dạy và học của các trường học còn kém, rất ít trường đạt chuẩn so với yêu cầu của một nhà trường. Cơ sở vật chất nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo còn nhiều bức xúc và cần có chương trình mục tiêu đầu tư để giải quyết.

Chương trình giáo dục còn nặng nề, chưa bám sát yêu cầu của cuộc sống năng động. Nhiều phần trong chương trình đào tạo đại học và chuyên nghiệp đã lạc hậu. Phương tiện giảng dạy, thí nghiệm, thực tập, nghiên cứu thiếu thốn và cũ kỹ. Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên; thi cử còn nặng nề, tốn kém, một số tỉnh thành còn để xảy ra sai phạm trong các kỳ thi cấp quốc gia, điển hình là sai phạm về gian lận khâu chấm thi tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2018 tại Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La. Phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhiều nơi chưa ổn định.

3. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

Để chất lượng giáo dục đào tạo được nâng cao về chất và lượng trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó cần tập trung thực thi giải pháp sau:

Thứ nhất: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục dào tạo, khoa học và công nghệ. Tuyên truyền về giáo dục có tác dụng tạo chuyển biến nhận thức và sự đồng thuận cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục. Đó là tuyên truyền về nội dung của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng như các chủ trương, chính sách mới về giáo dục đào tạo; đổi mới chương trình, sách giáo khoa; từ giáo dục mầm non đến phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề…ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục và đào tạo.

Thứ hai: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp. Đặc biệt cấp quản lý, phải xây dựng được chiến lược và tầm nhìn chương trình hành động cụ thể của ngành học, cấp học từ trên xuống dưới theo một logic khoa học. Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả này cần khắc phục những rào cản, bất cập hiện nay (biên chế, tiền lương, phụ cấp…) để giáo viên yên tâm công tác, thực sự say sưa, tâm huyết với nghề. Giáo viên cần đảm bảo chuẩn theo quy định và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ theo hướng đi tắt đón đầu.

Thứ ba: Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Cán bộ là gốc của mọi việc, nên các cấp chính quyền cần có chiến lược xây dựng được các nhà quản lý giáo dục giỏi làm sao đáp ứng được sự kỳ vọng của đất nước ta trong hiện tại và tương lai. Quản lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự kỷ cương, nề nếp. Cán bộ quản lý phải là người vừa hồng vừa chuyên để làm thế nào tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả, sáng tạo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, quy định, các chương trình, kế hoạch của cấp trên cũng như có những mô hình hay, phương pháp mới phù hợp với xu thế và tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị. Thiết thực hơn nữa với cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo cần hình thành tư tưởng chính trị quản lý lấy lợi ích quốc gia – dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Thứ tư: Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo. Cần tập trung rà soát lại và từ đó nghiên cứu quy định cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho giáo dục và đào tạo – với vị trí, vai trò là quốc sách hàng đầu; tăng cường xã hội hóa giáo dục, nâng cao hiệu quả, đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục và đào tạo. Cùng với đó, tăng cường đẩy mạnh thu hút các nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào giáo dục, đẩy mạnh tự chủ giáo dục đại học theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, trong đó khuyến khích thành lập các trường tư thục đa cấp chất lượng cao.

Thứ năm: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục đào tạo. Ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác thanh, kiểm tra. Giúp giữ vững và duy trì kỷ cương, trật tự, nề nếp, sự ổn định trong giáo dục, đồng thời phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục như gian lận thi cử, dạy thêm học thêm tràn lan, vi phạm đạo đức lối sống trong đội ngũ giáo viên cũng như học sinh…Bên cạnh đó cũng cần kịp thời làm tốt công tác thi đua khen thưởng tạo động lực tốt cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên cũng như học sinh tích cực thi đua quản lý tốt, dạy tốt, học tốt.

Tài liệu tham khảo:
1. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN.

4. https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/xep-hang-dai-hoc-cua-viet-nam-ket-qua-cap-nhat-20181025160226903.htm

5. Bộ Tài chính, Báo cáo quyết toán NSNN các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2015;

6. Chỉ thị số 2268/CT-BGDĐT ngày 08/8/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2019 – 2020 của ngành Giáo dục.


[i] Bảng xếp hạng đại học thế giới Quacquarelli Symonds, tiếng Anh: QS World University Rankings

[ii] https://www.usnews.com/education/best-global-universities/search?country=vietnam&region=asia

[iii] Bộ Tài chính, Báo cáo quyết toán NSNN các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2015

Các tin dã dang