Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Cập nhật: 02/09/2020 13:41

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.


 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên lễ đài sáng 2/9/1945

 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội

Vào những ngày tháng Tám lịch sử, trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận: Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, vì vậy phải: Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội, khẩn trương đánh chiếm ngay những nơi chắc chắn, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban nhân dân ở những nơi làm chủ, tất cả vì mục tiêu "Việt Nam hoàn toàn độc lập". Đến 23 giờ, ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, Quốc ca và bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa, khắp nơi quần chúng đồng loạt nổi dậy giành chính quyền. Ở những vùng xa xôi chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, được sự chỉ dẫn của chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, các đảng bộ địa phương đã lãnh đạo nhân dân vùng dậy giành chính quyền.

Ở Hà Nội, ngày 17/8, được tin Tổng hội viên chức của chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Nhà hát thành phố, Ủy ban khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít tinh ấy thành cuộc mít tinh ủng hộ cách mạng. Cuộc mít tinh sau đó đã biến thành biểu tình tuần hàng thị uy. Quần chúng vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu: “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn”, “Việt Nam độc lập”. Cả Hà Nội bừng bừng khí thế cách mạng tiến công, sục sôi khởi nghĩa. Ngày 18/8, cờ đỏ sao vàng đã phấp phới trên nhiều đường phố Hà Nội.

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội đã tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Ủy ban Dân tộc Giải phóng tiếp tục chỉ đạo Tổng khởi nghĩa, xúc tiến chuẩn bị cho ngày ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiến hành các hoạt động đối nội và đối ngoại.  Ngày 25/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về tới Hà Nội. Với tầm nhìn sáng suốt của một nhà cách mạng từng trải, ngay trong phiên họp đầu tiên với Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị: phải mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm thời, bao gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và các nhân sĩ không đảng phái; phải thảo ngay một bản Tuyên ngôn độc lập và tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở Thủ đô Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân; đó cũng là ngày nước Việt Nam chính thức tuyên bố độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Từ ngày 28/8, theo sự phân công của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, tại số nhà số 48, phố Hàng Ngang, Bác Hồ đã tập trung trí lực và tình cảm soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Đó là một trong số rất ít những bản tuyên ngôn độc lập được thế giới biết đến rộng rãi, đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời.

Tuyên ngôn Độc lập mở đầu bằng cách viện dẫn lại những “lời bất hủ” được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1791 của nước Pháp, đó là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; và: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi”(1). Từ quyền con người đã được khẳng định trong các bản Tuyên ngôn đó, Người  “suy rộng ra” thành quyền của các dân tộc. Tuyên ngôn viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đây là sự phát triển sáng tạo trong tư duy của Người, thể hiện tầm nhìn mang tính thời đại, từ quyền của cá nhân trở thành quyền của dân tộc.

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng khẳng định quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập” (2). Ở phần cuối của Bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(3). Đó là lời thề thiêng liêng của dân tộc, là tư tưởng lớn về khát vọng của nền độc lập dân tộc chân chính hoàn toàn và hướng đến tương lai ấm no, văn minh, hạnh phúc.

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đó là sự phát triển đến đỉnh cao của tư tưởng độc lập, tự do đã được thể hiện trong bản Yêu sách gửi Hội nghị Vécxây năm 1919, là sự phát triển của Chương trình Việt Minh mà Người đã viết năm 1941. Nó kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam và nói lên tâm hồn trong sáng, khí phách hào hùng của nhân dân ta.

Bản Tuyên ngôn Độc lập “là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (4). Đối với nhân dân ta, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là một áng văn lập quốc vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mở đầu bằng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

75 năm đã trôi qua, nhưng những giá trị tư tưởng của Tuyên ngôn Độc lập luôn sống mãi, trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, thành sức mạnh to lớn cho toàn thể dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Nguyễn Hằng    

Chú thích:

(1) (2) (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.3.

(4) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1969, trang 110.