Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiểu
Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường
Bộ quy chế quản lý đào tạo của các trường chính trị cấp tỉnh được Giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định 2252-QĐ/HVCTQG ngày 02/5/2019 thay thế cho các quy định ban hành kèm theo Quyết định 1855-QĐ/HVCTQG ngày 21/4/2016. Bộ quy chế mới (Quy chế 2252) gọn và sát thực hơn với các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và thanh tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các trường chính trị cấp tỉnh; là căn cứ và cơ sở cho tổ chức các hoạt động tương ứng của các trường chính trị đi vào nền nếp, quy củ hơn.
1. Tổ chức triển khai thực hiện tại Trường Chính trị Tô Hiệu
Thực hiện những quy định của bộ Quy chế 2252, trong năm qua tại Trường Chính trị Tô Hiệu cơ bản đã dần ổn định và đạt được một số kết quả nhất định.
Một cách tổng quát, ngay sau khi có Quyết định ban hành các quy chế của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trường đã phổ biến nhanh đến cán bộ chủ chốt của Trường qua hội nghị giao ban công tác tháng; từ đó triển khai nội dung quy chế đến từng đơn vị, tạo tính thống nhất trong toàn Trường để có thể thực hiện đồng bộ trên thực tế.
Đối với Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính: Trường phân định rõ nội dung các quy chế theo Quyết định 2252 được áp dụng triển khai đối với các lớp Trung cấp lý luận chính trị hành - chính tuyển sinh từ năm học 2019-2020 (tức sau nghỉ hè năm 2019); còn các lớp Trung cấp lý luận chính trị hành chính đã được tuyển sinh và khai giảng trước đó được thực hiện theo các quy định ban hành kèm theo Quyết định 1855 năm 2014 trước đây (Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2020, tại Trường không khai giảng lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính nào).
Đối với Quy chế giảng viên: Những quy định về giảng viên liên quan đến việc triển khai thực hiện Chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Trường triển khai thực hiện gắn với cách phân định thời điểm thực hiện Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính. Có nghĩa những lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính đã khai giảng trước thời điểm ban hành Quy chế theo Quyết định 2252 năm 2019 thì thực hiện theo Quy định ban hành kèm Quyết định 1855 năm 2014; những lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khai giảng sau thời điểm ban hành Quy chế kèm Quyết định 2252 thì thực hiện theo Quy định ban hành kèm Quyết định 2252.
Những quy định khác đối với giảng viên được phân định theo năm tròn; có nghĩa quy định ban hành kèm theo Quyết định 1855 được áp dụng hết năm 2019; quy định ban hành kèm theo Quyết định 2252 được áp dụng từ năm 2020. Tuy nhiên những quy định nào được xác định có lợi hơn cho giảng viên từ Quy chế theo Quyết định 2252 so với Quy chế theo Quyết định 1855 thì đước áp dụng ngay từ 6 tháng cuối năm 2019.
Đối với Quy chế nghiên cứu khoa học: Trường triển khai thực hiện tương tự như việc thực hiện Quy chế giảng viên; theo đó lấy tròn năm 2019 trong thời điểm chuyển sang năm 2020 để thực hiện cụ thể.
Đối với Quy chế Thanh tra đào tạo, bồi dưỡng: Trường lấy thời điểm tháng nghỉ hè năm 2019 để phân định. Theo đó, tổ chức thanh tra nội dung về đào tạo, bồi dưỡng trong 6 tháng đầu năm 2019 được thực hiện theo Quy chế ban hành kèm Quyết định 1855; tổ chức thanh tra nội dung về đào tạo, bồi dưỡng từ 6 tháng cuối năm 2019 được thực hiện theo Quy chế ban hành kèm Quyết định 2252. Riêng Kế hoạch thanh tra năm 2019 được thực hiện theo Kế hoạch đã được ban hành từ đầu năm 2019.
Đánh giá chung: Sau 1 năm triển khai thực hiện các quy chế được ban hành kèm theo Quyết định 2252 năm 2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho thấy về cơ bản các quy định trong các bản quy chế khắc phục được những bất cập trong các quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1855 năm 2014 trước đây cũng của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện tại.
Tuy nhiên quy định trong các quy chế ban hành kèm theo Quyết định 2252 năm 2019 cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định của Trường cũng như những vướng mắc, bất cập nhất định tử các quy định của các quy chế trong quá trình triển khai thực hiện, cần được hướng dẫn hoặc chỉnh sửa, bổ sung; nhất là đối với Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính.
2. Những tồn tại, hạn chế trong thực hiện của Trường Chính trị Tô Hiệu
Thứ nhất, việc tổ chức triển khai trên thực tế còn chậm
Mặc dù việc tổ chức quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện những quy định mới trong Quyết định 2252 tai Trường là khá sớm; nhưng việc tổ chức thực hiện những quy định cụ thể từ trong các quy chế còn chậm, có khi chưa kịp thời, làm ảnh hưởng chung đến tiến trình hiện các quy định. Ví dự như việc tổ chức thực hiện quy định về điểm và xếp loại rèn luyện của học viên trong Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, thời gian đầu chưa thiết lập được hệ thống các loại sổ và tiêu chí cụ thể trong kiểm soát để đánh giá; nên chắc chắn sẽ khó khăn trong đánh giá cụ thể sau này khi các lớp đầu tiên hoàn thành chương trình theo quy định mới (dự kiến sớm nhất khoảng cuối năm 2020 đối với lớp đào tạo tập trung).
Thứ hai, các quy định thực hiện còn thiếu tính đồng bộ
Quyết định 2252 năm 2019 đồng thời ban hành 4 quy chế về 4 vấn đề cụ thể (gồm Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Quy chế giảng viên, Quy chế nghiên cứu khoa học, Quy chế thanh tra đào tạo, bồi dưỡng) thay cho 9 quy chế theo Quyết định 1855 năm 2014 trước đây và có hiệu lực đồng thời. Nhưng quá trình tổ chức thực hiện, có những nội dung được triển khai thực hiện ngay; nhưng có những nội dung trên thực tế phải lùi thời gian thực hiện. Trong đó ngay tại cung một quy chế như Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Quy chế giảng viên cũng có nội dung đã thực hiện ngay, có nội dung thực hiện muôn hơn, thậm chí đến một năm sau vẫn chưa thực hiện được. Qua đó cho thấy sự thiếu đồng bộ và khoa học trong thực hiện những quy định tại Trường
3. Những vướng mắc, bất cập trong quy định của các quy chế (đề cập riêng đối với Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính)
- Quy định về công tác tuyển sinh
Trong khi đối tượng tuyển sinh tại Điều 3 của Quy chế được mở khá rộng ở điểm 4 là “Cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp trên địa bàn địa phương” thì không có quy định bắt buộc phải đương chức hay trong dự nguồn một chức vụ lãnh đạo; còn các đối tượng khác cần phải có. Đối tượng này chỉ cần có công văn cử dự tuyển của cấp ủy hoặc lãnh đạo đơn vị (theo điểm c khoản 2 Điều 5 Quy chế). Còn các đối tượng khác phải có hai bước là phê duyệt và công văn cử dự tuyển; nhất là đối tượng ở cơ sở và phòng, ban cấp huyện hoặc tương đương.
Thiết nghĩ đối với các đối tượng tham gia các lớp học được sử dụng ngân sách nhà nước hoặc các đối tượng học các lớp theo kế hoạch phân bổ cụ thể cho cấp bộ đảng cấp trên cơ sở thì quy định chặt chẽ như tại khoản 1, 2, 3 Điều 2 và điểm a, b khoản 2 Điều 5 của Quy chế là cần thiết. Nhưng đối với các đối tượng trong các cơ quan, đơn vị khu vực công mà bản thân và cơ quan, đơn vị xác định cần thiết phải được trang bị kiến thức về lý luận chính trị để phục vụ công tác; nhất là các đối tượng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nhưng khi nâng ngạch, thăng hạng trong quy định đòi hỏi phải có văn bằng về lý luận chính trị; đồng thời các đối tượng này tự túc trong đóng kinh phí đào tạo khóa học.
Vì vậy đề nghị cần có quy định rộng hơn về điều kiện xét duyệt đối với các đối tượng làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực công hoặc các tổ chức đảng được đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng giới thiệu đi học và tự túc về kinh phí thì có thể trực tiếp gửi công văn giới thiệu về trường chính trị để được xét duyệt học tại các lớp tại chức tự túc kinh phí do trường chính trị tổ chức.
- Quy định về độ tuổi người học
Quy định độ tuổi để học các lớp hệ không tập trung theo khoản 3 Điều 4 Quy chế phải bảo đảm từ 35 tuổi trở lên đối với nam và từ 30 tuổi trở lên đối với nữ, cán bộ đoàn hiện nay có điểm vướng đối với yêu cầu đổi mới và cải cách công vụ của nhiều cơ quan, đơn vị. Đó là chủ trương mọi cán bộ, công chức, viên chức phải đồng thời bảo đảm cả việc hoàn thành nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị lẫn việc bảo đảm hoàn thiện trình độ đào tạo lý luận chính trị tương ứng. Nên việc học tập chương trình trung cấp lý luận chính trị hành chính tại địa phương có điều kiện thuận lợi về khoảng cách địa lý phải tham gia các lớp học ngoài giờ, không học tập trung và được cơ quan, đơn vị hỗ trợ một phần kinh phí.
Xuất phát từ thực tế trên nên đề nghị có quy định thay đổi mở rộng về độ tuổi tham gia các lớp học thuộc hệ không tập trung đối nhưng ngoài giờ hành chính và không sử dụng ngân sách của cấp tỉnh, thành phố mà tự túc kinh phí từ người học hoặc hỗ trợ một phần kinh phí của cơ quan, đơn vị đang công tác.
- Quy định về giảm giờ định mức hay tính giờ của chủ nhiệm lớp
Khoản 3 Điều 14 Quy chế quy định giảm giờ định mức đối với chủ nhiệm lớp giữ ngạch giảng viên và giờ làm việc đối với chủ nhiệm lớp không giữ ngạch giảng viên có sự bất cập. Đối với chủ nhiệm lớp giữ ngạch giảng viên nhưng được giảm giờ do có các tiêu chuẩn khác như giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, chức vụ đoàn thể, thai sản, con nhỏ … thì cách tính tỷ lệ % là không phù hợp; đối với chủ nhiệm lớp không giữ ngạch giảng viên vì tính 60 giờ cho mỗi lớp của 1 khóa học là chưa tính hết thời gian cần thiết cho các công việc chủ nhiệm lớp phải làm.
Đề nghị nên quy định tăng số giờ tính cho công tác chủ nhiệm lớp phù hợp hơn và không nên cứng nhắc bắt buộc ra tỷ lệ % đối với chủ nhiệm lớp giữ ngạch giảng viên, mà có thể có nhiều cách lựa chọn tính khác nhau cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường chính trị.
- Quy định về về đánh giá kết quả học tập, rèn luyện có nhiều vướng mắc và bất cập
+ Quy định về điều kiện dự thi tại điểm a, khoản 1 Điều 16 Quy chế cứng nhắc khi không cho phép học viên được nghỉ khi có lý do theo tỷ lệ % nhất định mà vẫn được dự thi;
+ Quy định thẩm quyền cho phép học viên đủ điều kiện viết khóa luận tốt nghiệp nhưng có nguyện vọng thi tốt nghiệp thuộc trưởng phòng quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học tại khoản 3 Điều 28 của Quy chế là chưa hợp lý.
Nên điều chỉnh thẩm quyền này về hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng phụ trách nội dung.
+ Cách tính điểm để xếp loại học tại Điều 35 Quy chế còn chưa hợp lý. Vì tổng hợp lại thì mỗi bài thi tốt nghiệp (có thời gian làm bài dài hơn, đòi hỏi tính tổng hợp cao hơn so với bài thi hết phần học hay môn học) cũng chỉ được tính hệ số 1 như đối với các bài thi khác.
Điểm này nên điều chỉnh lại cho phù hợp hơn; kể cả cách tính điểm bài viết thu hoạch nghiên cứu thực tế và điểm khóa luận tốt nghiệp.
4. Đề xuất chung
Bộ 4 quy chế theo Quyết định 2252 năm 2019 đã có hiệu lực được hơn một năm; các trường chính trị đã tổ chức triển khai thực hiện và có những áp dụng nhất định mang tính cụ thể hoặc riêng biệt hay đặc thù cho trường mình. Thời gian đó đủ để có thể có những sơ kết bước đầu tổng thể về thực hiện quy chế. Vì vậy để có thể có những báo cáo, điều chỉnh cho việc thống nhất triển khai thực hiện chung trong phạm vi cả nước. Để thực hiện được điều đó, đề xuất tiến hành mấy việc sau:
Một là, tổ chức sơ kết hoặc tổng kết một năm thực hiện nội dung các quy chế theo Quyết định 2252 để đánh giá kết quả cụ thể trong thực hiện, rút ra những bài học, cần thiết sửa đổi, bổ sung hay hướng dẫn cho phù hợp và kịp thời trong tình và điều kiện mới, bảo đảm tính thống nhất, khách quan, khoa học.
Hai là, trước khi sơ kết hoặc tổng kết chung của cấp cả nước (do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì) cần tiến hành sơ kết hay tổng kết, rút kinh nghiệm từ từng trường chính trị trong cả nước.
Ba là, cùng với sơ kết hay tổng kết, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cần chỉ đạo, chủ trì nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa, thay thế hệ thống các chương trình đào tạo, bồi dưỡng do Học viện xây dựng, phân cấp cho các trường chính trị thực hiện (nhất là Chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính) để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ về thể chế đối với các quy định do Học viện có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn việc thực hiện.
Bốn là, đồng thời quá trình sơ kết, tổng kết, ban hành các quy định, hướng dẫn bổ sung hay quy định mới đề nghị có sự so sánh, tích hợp thật kỹ với các quy định tương ứng thuộc thẩm quyền quy định của các cơ quan nhà nước; nhất là quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ về các vấn đề liên quan để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, tương thích không chỉ trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị, mà còn cả trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống thể chế pháp lý về cán bộ, công chức, viên chức nói chung./.