Th.S Lê Thị Thanh Nhàn
Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật
Bên cạnh công quyền, dân quyền là một đối tượng điều chỉnh quan trọng của hiến pháp. Đấu tranh vì các quyền và tự do của con người là một trong những nội dung trọng yếu trong tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh. Một ham muốn tột bậc của Bác là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Từ những ngày còn hoạt động cách mạng ở Pháp, Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc nếu được độc lập thì Việt Nam sẽ xếp đặt một nền hiến pháp theo ý tưởng dân quyền.
Trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam, Người đã yêu cầu một cách toàn diện về dân quyền sau đây:
1 - Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;
2 - Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu Châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3 - Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4 - Tự do lập hội và hội họp;
5 - Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;
6 - Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;
7 - Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8 - Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.
Có người đã đánh giá Bản yêu sách này có dáng dấp ban đầu của một “Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam”. Đó chính là những quyền cơ bản của con người mà sau này nhiều nội dung đã được phản ánh trong Hiến pháp đầu tiên của dân tộc.
Với tư cách là một trong những người chắp bút khởi thảo xây dựng Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đã phản ánh khá sâu sắc tư tưởng dân quyền của Hồ Chí Minh. Bản Hiến pháp gồm 7 Chương với 70 Điều, trong đó các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tập trung tại Chương II với 18 điều (ngoài ra còn được thể hiện trong một số điều khoản khác). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, các quyền của công dân được văn bản tối cao của Nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 1946 được đặt ở Chương II, chỉ sau quy định về chính thể, và trước cả quy định về các cơ quan quyền lực nhà nước. Điều đó cho thấy vấn đề nhân quyền rất được coi trọng. Đặc biệt, Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 khẳng định việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ là một trong ba nguyên tắc làm nền tảng cho việc xây dựng bản Hiến pháp này.
Các quyền lợi của công dân được ghi nhận và bảo vệ trong Chương II Hiến pháp năm 1946 trải rộng trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Thứ nhất, các quyền chính trị gồm: quyền bình đẳng về mọi phương diện (Điều 6); quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được tham gia chính quyền (Điều 7); quyền của quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều 8); quyền bình đẳng nam nữ (Điều 9); những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam (Điều 16). Đặc biệt trong quyền chính trị có các quyền bầu cử, quyền ứng cử (Điều 18); quyền bãi miễn các đại biểu dân cử (Điều 20); quyền phúc quyết về hiến pháp và những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia (Điều 21);
Thứ hai, các quyền tự do cá nhân gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và nước ngoài (Điều 10); quyền tự do thân thể; quyền bất khả xâm phạm nhà ở và thư tín trái pháp luật (Điều 11);
Thứ ba, các quyền kinh tế - xã hội gồm: quyền tham gia vào công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều 7); quyền tư hữu tài sản (Điều 12); quyền được bảo đảm quyền lợi của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều 13); quyền được giúp đỡ của người già cả hoặc tàn tật; quyền được chăm sóc về mặt giáo dưỡng của trẻ con (Điều 14);
Thứ tư, các quyền về văn hóa gồm: quyền được giáo dục ở bậc sơ học không phải trả học phí; quyền của quốc dân thiểu số được học bằng tiếng của mình ở các địa phương; học trò nghèo được Chính phủ trợ giúp; trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước (Điều 15).
Mặc dù không đề cập đến khái niệm quyền con người, song về bản chất các quyền công dân trong Chương II của Hiến pháp 1946 cũng chính là các quyền con người mà sau đó được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 và hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966 của Liên hợp quốc. Đặc biệt, Điều thứ 16 Hiến pháp 1946 quy định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam”. Đây chính là một quy định rõ ràng về quyền con người (quyền được tỵ nạn, quy định tại Điều 14 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948) trong Hiến pháp 1946, vì chủ thể của quyền trong quy định này không phải là công dân Việt Nam. Như vậy, các quyền này trong Hiến pháp được thiết kế theo nguyên tắc dân quyền xuất phát từ nhân quyền. Chính vì dân quyền có nguồn cội từ nhân quyền nên đó là những quyền tự nhiên của con người. Nhà nước không tạo ra những quyền đó, Nhà nước không ban cho người dân những quyền đó vì đó là những quyền vốn có của con người. Tư duy lập hiến thể hiện ở đây là Hiến pháp tôn trọng các quyền con người đồng thời bảo đảm thực hiện và cam kết các quyền con người không thể tùy tiện vi phạm.
Nghiên cứu Hiến pháp năm 1946 cho thấy, không giống các Hiến pháp sau này của Việt Nam và Hiến pháp của nhiều quốc gia khác, Chương II của Hiến pháp 1946 được sắp xếp theo hướng quy định nghĩa vụ (bao gồm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật, nghĩa vụ đi lính) trước quyền lợi. Điều này thể hiện rõ ràng ý định của các nhà lập hiến là đề cao nghĩa vụ của công dân. Sự sắp xếp có thể chỉ mang tính tình thế, để phù hợp với hoàn cảnh đất nước khi ấy đang trong tình thế “thù trong”, “giặc ngoài”, do đó việc bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất, đòi hỏi tất cả công dân phải đặt nghĩa vụ với Tổ quốc lên trước các quyền lợi của cá nhân. Việc đặt nghĩa vụ lên trước không làm giảm ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề quyền công dân trong Hiến pháp 1946.
Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng vấn đề quyền con người, quyền công dân được đặc biệt đề cao trong Hiến pháp 1946. Qua đây phản ánh tư tưởng dân quyền trong Hiến pháp của Hồ Chí Minh - một trong những nội dung quan trọng góp phần làm nên giá trị lâu bền của Hiến pháp năm 1946./.