Th.S Lê Thị Thanh Nhàn
GV Khoa Nhà nước và Pháp luật
Trong kho tàng lý luận đồ sộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, thì tư tưởng lập hiến của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng. Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh là vấn đề lớn với nhiều nội dung cơ bản, quan trọng và có giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong quá trình hoàn thiện nền lập hiến và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh là một nội dung rộng lớn, bao quát nhiều vấn đề như vấn đề độc lập chủ quyền dân tộc, vấn đề chủ quyền nhân dân, quyền con người, quyền công dân, tổ chức và kiểm soát quyền lực trong hiến pháp… Qua nghiên cứu tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh có thể thấy, Hồ Chí Minh không chỉ là người đặt nền móng cho nền lập hiến ở Việt Nam, mà những tư tưởng Người để lại còn chứa đựng nhiều giá trị soi sáng cho chúng ta trong thời đại ngày nay. Những giá trị trong tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh có thể nhìn nhận từ những vấn đề sau:
Một là, tìm hiểu tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh để khẳng định rằng hiến pháp là trụ cột gốc trong hệ thống pháp luật ghi nhận độc lập, chủ quyền; hiến pháp là công cụ để bảo vệ độc lập chủ quyền và đặt khuôn khổ cho độc lập chủ quyền của dân tộc.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa độc lập chủ quyền dân tộc với Hiến pháp. Nước không được độc lập, quốc gia chưa có chủ quyền thì chưa có điều kiện để xây dựng và ban hành Hiến pháp. Ngược lại, Hiến pháp ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý với nhân dân trong nước và thế giới một nhà nước độc lập có chủ quyền và là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là sản phẩm lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Đối với dân tộc Việt Nam còn nô lệ thì trước hết Hiến pháp phải gắn với độc lập: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Còn trong điều kiện ngày nay, Hiến pháp càng phải khẳng định được sứ mệnh của mình trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền và đặt khuôn khổ cho độc lập chủ quyền của dân tộc. Bởi độc lập, chủ quyền là mục tiêu và động lực của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, đề cao chủ quyền nhân dân là cống hiến vô cùng quan trọng và tiêu biểu trong tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh.
Sau khi cách mạng thành công, đất nước được độc lập, quốc gia có chủ quyền, tư tưởng về việc sắp đặt một nền Hiến pháp với lý tưởng quyền lực thuộc về nhân dân trở thành một nội dung quan trọng trong tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh. Xuyên suốt Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, từ Lời nói đầu đến từng chương, từng điều của Hiến pháp đều thấy nhất quán tư tưởng tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ là người đặt nền móng cho nền lập hiến ở Việt Nam, mà cùng với đó, lần đầu tiên trong lịch sử, chính Người đã đưa vấn đề chủ quyền nhân dân ghi nhận trong Hiến pháp - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của nhà nước, trở thành một nguyên tắc hiến định. Hiến pháp tuyên bố và khẳng định rằng người dân Việt Nam chính là những người chủ đất nước, người chủ của quyền lực chính trị.
Ba là, với Hồ Chí Minh, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng của Hiến pháp.
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người luôn gắn liền với văn bản Hiến pháp. Hiến pháp trước hết phải là văn bản pháp lý thể hiện các quyền cơ bản của con người. Và quyền con người, quyền công dân phải thể chế hóa thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể, có tính phổ cập, tính xã hội hóa, không phân biệt “nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Phải thông qua Hiến pháp, pháp luật thì các giá trị của con người mới trở thành quyền năng, đòi hỏi Nhà nước phải có trách nhiệm để thực hiện trong thực tế. Đây thực sự là tư tưởng lập hiến tiến bộ và giàu tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng lập hiến giàu tính nhân văn ấy đã được thể hiện sâu sắc trong hai bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc và được kế thừa, phát triển trong các bản Hiến pháp về sau.
Bốn là, trong tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh hiến pháp ra đời đã hiến định cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp với chế độ chính trị và điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước.
Sau khi đất nước giành độc lập, chủ quyền, Hiến pháp ra đời, đây được coi như một văn bản có sứ mệnh xác lập cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp với chế độ chính trị và điều kiện lịch sử của đất nước. Hiến pháp xác định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân. Tư tưởng về sự thống nhất quyền lực nhà nước của Hồ Chí Minh thể hiện trong Hiến pháp là một sự phản ánh thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhà nước ta thai nghén từ căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, từ Đại hội Quốc dân Tân Trào và Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam năm 1945, đứng đầu là Hồ Chí Minh, Nhà nước nảy sinh từ trong lòng dân. Do vậy, sau khi giành chính quyền, một tất yếu của cách mạng là nhân dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội lập ra Chính phủ, để Chính phủ này là một Chính phủ của nhân dân, thống nhất vào nhân dân. Quốc hội, Chính phủ cũng như các cơ quan nhà nước khác thực hiện quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là đại diện tối cao của nhân dân thể hiện sự thống nhất quyền lực nhà nước.
Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu những tư tưởng và mô hình tiến bộ của các chế độ nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và đặt nền móng cho một chế độ nhà nước dân chủ thực sự đảm bảo nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Hiến pháp xác định chính thể nhà nước của nước Việt Nam là nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, một điểm sáng tạo cần chú ý trong chính thể Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân ở Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng là chủ trương không sao chép, rập khuôn máy móc bất kỳ một mô hình Nhà nước cụ thể nào mà luôn có quan điểm kế thừa có chọn lọc để xây dựng phát triển Nhà nước gắn liền với các điều kiện lịch sử cụ thể. Điểm đáng chú ý là cơ cấu tổ chức quyền lực Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà theo Hiến pháp 1946 có một số điểm tương đồng về hình thức với Chính thể cộng hoà Tổng thống của một số nhà nước tư sản, đặc biệt là nước Mỹ; nhưng không phải sự sao chép. Điều này cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những yếu tố hợp lý của cả những chế độ chính trị khác nhau khi xét thấy nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Năm là, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhần dân trong việc ra đời hiến pháp.
Đặc trưng, bản chất của một nền lập hiến biểu hiện trực tiếp và trước hết ở phương thức “làm Hiến pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề này. Trước hết, Người khẳng định mạnh mẽ quyền lập hiến là quyền thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền này thông qua Nghị viện nhân dân do nhân dân bầu ra, đại diện cho nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Và theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân chính là người có quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân. Điều đó thể hiện Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc bảo đảm Hiến pháp phải thực sự của nhân dân.
Bản Hiến pháp do đại biểu của nhân dân, được nhân dân góp ý, được sự đồng thuận từ nhân dân là điều kiện đầu tiên để trở thành bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đây là một điểm sáng trong giá trị tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh mà chúng ta cần tiếp tục vận dụng trong quá trình hoàn thiện nền lập hiến ở Việt Nam.
Trong kho tàng di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng lập hiến của Người là một trong những nội dung quan trọng, đặc sắc, phản ánh tư duy, trí tuệ Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam. Từ tư tưởng về vấn đề độc lập, chủ quyền dân tộc, chủ quyền nhân dân, quyền con người, quyền công dân, tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước đến vấn đề lập hiến, sửa đổi Hiến pháp, đã phản ánh khá toàn diện tư tưởng của Người về một bản Hiến pháp dân chủ và một nền lập hiến khoa học, tiến bộ. Những nguyên lý của Hồ Chí Minh về Hiến pháp và xây dựng Hiến pháp vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị soi sáng cho chúng ta trong thời đại ngày nay./.