Cách đây 45 năm, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975
Cuối năm 1974, đầu năm 1975, trong tình hình so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Hội nghị Bộ Chính trị (từ 30/9 đến 7/10/1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ 18/12/1974 đến 8/1/1975) họp bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Hội nghị đã phân tích, đánh giá chính xác sự phát triển của tình hình, đề ra phương hướng hành động đúng đắn, thể hiện quyết tâm chiến lược cao giải phóng hoàn toàn miền Nam khi thời cơ đến. Đó thực sự là ngọn đuốc soi đường dẫn đến đại thắng của cuộc Tổng tiến công và nội dậy mùa Xuân 1975.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân, dân ta ở miền Nam đã diễn ra gần hai tháng vào mùa Xuân 1975 với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 - 24/3/1975)
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974 về chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu, Quân ủy Trung ương quyết định dùng lực lượng chủ lực mạnh với binh khí kỹ thuật hiện đại để mở chiến dịch quy mô lớn ở Tây Nguyên với trận then chốt mở màn tấn công Buôn Ma Thuột nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, phát triển cuộc tiến công sang các tỉnh ven biển miền Trung, thực hiện chia cắt chiến lược.
Về phía lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 5 Sư đoàn (10, 320A, 316, 968, 3) và 4 Trung đoàn bộ binh (25, 271, 95A, 95B), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng - thiết giáp 273 và một số đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật. Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Tư lệnh, Trung tướng Hoàng Minh Thảo; Chính ủy Đặng Vũ Hiệp.
Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh thu hút địch lên hướng Pleiku, từ ngày 4/3, ta bước vào tạo thế cắt đường 19, 21 (chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng); cắt đường 14 (chia cắt Bắc với Nam Tây Nguyên), tập kích bằng đặc công và hỏa lực pháo binh vào Kon Tum. Ngày 10/3, quân ta từ bốn cánh tiến công Buôn Ma Thuột bằng cơ giới. Sau hai ngày chiến đấu, quân ta tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, làm chủ hoàn toàn thị xã.
Để bảo toàn lực lượng Quân đoàn 2, địch phải bỏ Bắc Tây Nguyên rút chạy về đồng bằng theo đường số 7 liên tỉnh. Sư đoàn 320 truy kích địch từ ngày 17 đến 23/3, đánh thiệt hại nặng một trung đoàn bộ binh, 6 liên đoàn biệt động, 4 thiết đoàn..., giải phóng Cheo Reo, Cung Sơn. Đồng thời, từ ngày 18 đến 24/3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A và Trung đoàn 271 giải phóng thị xã Kon Tum, Pleiku, Gia Nghĩa. Từ ngày 2/3 đến 3/4/1975, bộ đội ta tiếp tục truy kích diệt Lữ đoàn dù số 3, Trung đoàn bộ binh 40, Liên đoàn biệt động quân 24 của địch ở miền Nam Trung bộ; giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh. Đến ngày 24/3/1975, toàn bộ quân địch rút khỏi Tây Nguyên. Tây Nguyên rộng lớn với 60 vạn dân hoàn toàn được giải phóng.
Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sang giai đoạn mới: từ tiến công chiến lược ở Tây Nguyên phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (21/3 - 3/4/1975)
Sau khi mất Tây Nguyên, thế phòng thủ chiến lược của địch bị rung chuyển nghiêm trọng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng lấy tên là "Mặt trận 475". Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế - Đà Nẵng.
Ngày 21-3, chiến dịch Huế - Đà Nẵng được mở ra, nhằm tiêu diệt tập đoàn quân phòng ngự mạnh của quân ngụy ở Trị - Thiên, Huế, Đà Nẵng, giải phóng các tỉnh miền Trung. Bộ Quốc phòng mở chiến dịch tiến công các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có Quân đoàn I - Quân khu 1; có 6 sư đoàn (2 sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị, 4 sư đoàn biệt động quân); 24 tiểu đoàn và l0 đại đội bảo an, 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu), 4 thiết đoàn và 10 chi đoàn tăng - thiết giáp (trên 400 xe), 165 tàu hải quân, 1 sư đoàn không quân (96 máy bay chiến đấu) được bố trí thành 2 khu vực phòng ngự vững chắc: Bắc đèo Hải Vân (Quảng Trị - Thừa Thiên) và Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng - Quảng Ngãi).
Chiến dịch thực hiện làm 2 đợt. Đợt 1, tác chiến từ ngày 21 đến 25/3 tiến công bao vây, chia cắt chiến lược, giải phóng Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên, Quảng Ngãi. Đợt 2, tác chiến từ ngày 26 đến 29/3, ta tiến hành tổng công kích vào Đà Nẵng. Ngày 21/3/1975, từ các hướng Bắc, Tây, Nam, quân ta đồng loạt tiến công, hình thành nhiều mũi bao vây địch, mở màn cuộc tiến công Huế. Đến ngày 24/3, quân ta đã bao vây chặt toàn bộ tập đoàn phòng ngự của địch ở Huế; cũng trong ngày 24/3, quân ta đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Tam Kỳ (Quảng Ngãi), xoá sổ Sư đoàn 2, Liên đoàn 12 biệt động quân nguỵ, giải phóng hoàn toàn thị xã Tam Kỳ. Ngày 26/3, Sư đoàn 1 quân ngụy bị tiêu diệt, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Thắng lợi đó đã tạo thế uy hiếp từ hướng Bắc đối với quân địch ở Đà Nẵng.
Cuộc tiến công Đà Nẵng được Quân ủy Trung ương quyết định ngay sau khi giải phóng Huế với tinh thần “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất và với lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất”. Thực hiện quyết tâm đó, sáng ngày 28/3, Quân đoàn 1 cùng với các lực lượng của Quân khu V đã chia thành 5 cánh: Bắc, Tây – Bắc, Tây – Nam, Nam, Đông – Nam đồng loạt tiến vào Đà Nẵng. Đến 15 giờ, ngày 29/3/1975, Đà Nẵng – một căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ - Thiệu bị quân ta tiêu diệt, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống phòng ngự chiến lược của Thiệu ở miền Trung, xóa bỏ Quân khu I, phá tan âm mưu co cụm chiến lược của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 - 30/4/1975)
Trên cơ sở đánh giá thời cơ chiến lược để tiến hành “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” vào sào huyệt của quân Sài Gòn đã chín muồi, Bộ Chính trị hạ quyết tâm “Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, thực hiện “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể chậm trễ”. Để thực hiện quyết tâm đó, Bộ Chính trị đã quyết định một loạt vấn đề lớn, nhằm đảm bảo cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng toàn thắng, trong đó có quyết định thành lập Bộ tư lệnh và Đảng ủy mặt trận, quyết định tên chiến dịch đánh vào Sài Gòn là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Từ ngày 9/4/1975, quân ta tổ chức những cuộc tiến công trên hướng Đông, đánh vào Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu bảo vệ Sài Gòn từ phía đông của đối phương. Ngày 21/4, trước sức tiến công của quân ta, quân ngụy ở căn cứ Xuân Lộc buộc phải tháo chạy, thị xã Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh hoàn toàn giải phóng, cánh cửa phía đông Sài Gòn được mở sẵn để đón đại quân ta vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đến giai đoạn chót càng thêm quyết liệt với tốc độ nhanh “một ngày bằng 20 năm”.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, cuộc Tổng tấn công quy mô lớn vào Sài Gòn bắt đầu. Quân ta đồng loạt nổ súng tiến công mãnh liệt trên toàn mặt trận. Năm cánh quân lớn của ta, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang địa phương và được sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân nổi dậy nhất loạt tiến công với sức mạnh vũ bão. Chỉ sau một thời gian ngắn, quân ta đã chiếm được một số căn cứ và mục tiêu quan trọng, phá vỡ các khu vực phòng thủ vòng ngoài của địch, cắt đứt giao thông thuỷ bộ, chặn đường rút chạy ra biển, xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long của quân địch và bao vây cô lập Sài Gòn.
Chiều ngày 28/4/1975, không quân ta dùng máy bay lấy được của địch ném bom sân bay Tân Sơn Nhất phá huỷ nhiều máy bay địch gây cho địch nhiều thiệt hại lớn nhưng quan trọng nhất là làm tê liệt căn cứ không quân quan trọng nhất chi viện hỏa lực cho quân đội và cắt đứt cầu hàng không duy nhất của địch, không cho chúng chạy ra nước ngoài. Trận ném bom này đã đẩy quân đội và chính quyền ngụy vào cơn hoảng loạn.
Ngày 29/4/1975, quân ta tổng công kích trên toàn mặt trận. Tất cả các cánh quân của ta gồm 15 sư đoàn quân chủ lực, đồng loạt tiến công và chỉ một ngày đã đập vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của quân đội Sài Gòn, ngăn chặn và tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của chúng ở Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long, không cho chúng co về Sài Gòn, tạo điều kiện cho quân ta thọc sâu vào nội thành.
Ngày 30/4/1975, với sự hợp đồng chiến đấu của các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, của các lực lượng biệt động tự vệ ở vùng ven và nội đô cùng với sự nổi dậy của quần chúng trong và ngoài thành phố, các cánh quân hùng mạnh của ta đã thần tốc thọc sâu, tiến thẳng vào chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố Sài Gòn - Gia Định như: Bộ Tổng tham mưu, Biệt Khu thủ đô, Tổng Nha cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh, Bộ Quốc phòng ngụy, khu Bộ Tư lệnh các binh chủng của địch và khu cảng Bạch Đằng.
10 giờ 45 phút ngày 30/4, các đơn vị của Quân đoàn 2, bằng xe tăng và pháo binh, tiến thẳng vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ chính quyền trung ương Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trên đà chiến thắng, từ ngày 30/4/1975, đồng bào và chiến sỹ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh còn lại: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Long An, Hậu Nghĩa, Mỹ Tho, Trà Vinh, Bến tre, Kiến Tường, An Giang, Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau đã đứng lên giành quyền làm chủ. Ngày 01/5/1975, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng.
Cùng với các tỉnh ở đất liền, ngày 30/4/1975, các chiến sỹ yêu nước bị địch giam giữ ở Côn Đảo đã nổi dậy, làm chủ hoàn toàn đảo này. Ngày 02/5/1975, Quân giải phóng phối hợp với nhân dân tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ hoàn toàn đảo Phú Quốc. Trước đó, trong tháng 4/1975, quân ta giải phóng các đảo dọc bờ biển Trung Trung bộ và Nam Trung bộ. Trong quần đảo Trường Sa, Quân ta tiến công và giải phóng các đảo do quân ngụy chiếm giữ như: đảo Song Tử Tây, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết, đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa và đảo An Bang.
Ý nghĩa lịch sử
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cùng với trận Bạch Đằng (1288) chống quân Nguyên Mông, trận Chi Lăng (1427) chống quân Minh, trận Đống Đa (1789) chống quân Thanh, chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống quân Pháp đã cắm cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nó góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới tiếp tục phát triển.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 thể hiện ý chí và khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước của nhân dân ta. Chiến thắng vĩ đại đó mãi mãi là bản anh hùng ca ngân vang theo dòng chảy lịch sử; được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã làm nên một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất. Đại hội lần thứ IV của Đảng đánh giá thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ: Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm vóc quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc./.
Nguyễn Thị Hằng
Phòng Tổ chức, hành chính, thông tin, tư liệu