Vướng mắc và đề xuất điều chỉnh trong thực hiện những quy định được ban hành kèm theo quyết định 2252 năm 2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Cập nhật: 05/08/2020 21:47

Thạc sĩ Phạm Thị Kim Anh

Phó Trưởng Phòng Quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học

Sau 1 năm triển khai thực hiện những quy định được ban hành kèm theo Quyết định 2252 năm 2019 của Giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho thấy đã khắc phục được những hạn chế của bộ Quy chế quản lý đào tạo của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kèm theo Quyết định số 1855/QĐ-HVCTQG ngày 21/4/2016, cơ bản đáp ứng được thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của Trường.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Nhà trường gặp một số khó khăn, vướng mắc.

1. Đối với Quy chế Đào tạo Trung cấp Lý luận chính trị - hành chính

- Tại khoản 1 Điều 8 quy định về Số lượng học viên: Mỗi lớp hệ tập trung không quá 50 học viên, mỗi lớp hệ không tập trung không quá 80 học viên. Trên thực tế, quy định này khó thực hiện đối với các lớp mở ngoài giờ hành chính.

Đề xuất: Bổ sung quy định đối với số lượng học viên của các lớp mở ngoài giờ hành chính (không quá 90 học viên); đồng thời quy định số lượng tối thiểu để mở một lớp hệ tập trung và không tập trung.

- Tại khoản 2 Điều 8 quy định về Tổ chức lớp học, theo đó quy định mỗi lớp có Ban cán sự lớp và các tổ trưởng, không có tổ phó và cũng không có chế độ cộng thưởng điểm cho Ban cán sự và tổ trưởng. Quy định như vậy không khuyến khích học viên tham gia làm Ban cán sự lớp.

Đề xuất: Bổ sung quy định mỗi lớp có Ban cán sự lớp, các tổ trưởng, tổ phó (đối với tổ có từ 15-20 học viên) và chế độ cộng thưởng điểm vào điểm trung bình chung học tập: lớp trưởng (cộng 0,3), lớp phó (cộng 0,2), tổ trưởng (cộng 0,1), tổ phó (cộng 0,1).

- Tại điểm d khoản 2 Điều 10 quy định về Quyền lợi của học viên: học viên được nghỉ học khi có lý do nhưng phải có đơn xin phép do lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý xác nhận và được Hiệu trưởng đồng ý. Quy định này là không phù hợp.

Đề xuất: Học viên nghỉ học có đơn (áp dụng đối với các lớp) và có xác nhận của lãnh đạo đơn vị (đối với các lớp mở trong giờ hành chính), Chủ nhiệm lớp tập hợp đơn, báo cáo Trưởng khoa và Trưởng phòng Quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học xét duyệt.

- Tại khoản 2 Điều 11 quy định về Kỷ luật học viên: áp dụng hình thức kỷ luật Cảnh cáo trong trường hợp Say rượu bia trong giờ học. Quy định này chưa rõ nên khó áp dụng trên thực tế.

Đề xuất: Bổ sung các biểu hiện của tình trạng Say rượu bia trong giờ học.

- Tại khoản 3, Điều 14 quy định về Quyền lợi của chủ nhiệm lớp: Chủ nhiệm lớp giữ ngạch giảng viên thì cứ chủ nhiệm 01 lớp được giảm 5% định mức giờ chuẩn; chủ nhiệm lớp không giữ ngạch giảng viên, được tính 60 giờ làm việc/lớp/khóa học”. Quy định này không khuyến khich được người tham gia làm công tác chủ nhiệm lớp.

Đề xuất: Tính giờ cho chủ nhiệm lớp không phân biệt chủ nhiệm lớp giữ ngạch giảng viên hay không giữ ngạch giảng viên, và quy định 0,5 giờ/01 buổi học.

- Tại Điều 16 quy định về Điều kiện dự thi và xét điều kiện dự thi: Nếu học viên được nhà trường đồng ý cho nghỉ học dưới 25% tổng số thời gian học lý thuyết, thảo luận trên lớp của phần học, môn học thì trước khi thi phải học lại nội dung chưa học; nếu học viên được nhà trường đồng ý cho nghỉ học từ 25% trở lên tổng số thời gian học lý thuyết và thảo luận trên lớp của phần học, môn học thì trước khi thi phải học cả phần học, môn học đó; nếu học viên nghỉ học mà không được sự đồng ý của nhà trường thì trước khi thi phải học lại cả phần học, môn học. Việc quy định như vậy có nghĩa trong suốt quá trình học tập học viên không được vắng bất kỳ buổi học nào. Điều này là khó thực hiện trên thực tế.

Đề xuất: Quy định cho học viên được nghỉ có lý do không quá 20% tổng số thời gian học lý thuyết, thảo luận trên lớp của phần học, môn học. Trong trường hợp học viên nghỉ quá 20% nhưng dưới 50% thì trước khi thi phải học bổ sung phần thiếu. Trong trường hợp học viên nghỉ học từ 50% trở lên hoặc nghỉ học không có lý do thì trước khi thi phải học lại cả phần học, môn học đó.

- Tại khoản 1 Điều 23 quy định Bài viết thu hoạch từ 10 - 15 trang khổ giấy A4.

Đề xuất: Vấn đề này nên để các trường chủ động quy định tùy thuộc vào điều kiện triển khai thực hiện của mỗi trường.

- Tại Điều 36 quy định về Xếp loại học tập, Điều 38 quy định về Xếp loại rèn luyện. Theo đó chưa có quy định về mối quan hệ giữa xếp loại học tập và xếp loại rèn luyện. Ví dụ, một học viên có thể xếp loại học tập xuất sắc trong khi xếp loại rèn luyện trung bình. Điều này là không phù hợp.

Đề xuất: Bổ sung quy định học viên xếp loại học tập giỏi trở lên phải đạt xếp loại rèn luyện tốt; học viên xếp loại khá phải đạt xếp loại rèn luyện khá trở lên.

2. Quy chế Giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Điều 15 quy định về tính giờ chuẩn. Theo đó, đối với thi trắc nghiệm: ra 01 đề và đáp án tính 1,5 đến 2 giờ chuẩn; chấm thi 10 bài tính 01 giờ chuẩn/01 giảng viên.

Đề xuất: Tăng giờ chuẩn cho việc ra đề thi và chấm thi trắc nghiệm.

3. Quy chế Nghiên cứu khoa học của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Tại khoản 2 Điều 4 quy định về Khung định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học đối với giảng viên. Theo đó, định mức giờ chuẩn của giảng viên là 270 giờ, giảng viên chính là 290 giờ, giảng viên cao cấp là 310 giờ. Đối chiếu với khoản 2 Điều 13 Quy chế Giảng viên quy định về Định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên, nhận thấy định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học bằng định mức giờ chuẩn giảng dạy.

Đề xuất: Điều chỉnh định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học thấp hơn định mức giờ chuẩn giảng dạy hoặc tăng giờ quy đổi cho một số công trình nghiên cứu khoa học như bài đăng trên Thông tin lý luận và thực tiễn của trường.

- Điều 6 quy định về Quy đổi kết quả nghiên cứu khoa học: Bổ sung thêm các hoạt động nghiên cứu khoa học được quy đổi giờ chuẩn như có bài phản biện trong các đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, cấp tỉnh, cấp cơ sở và luận án tiến sỹ...