Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp giảng dạy tình huống. Tuy nhiên, nhìn chung, phương pháp này có một số đặc điểm nổi bật sau:
+ Nội dung dạy học xuất phát từ một vấn đề phức hợp (không đơn giản và được cấu trúc tốt).
+ Sử dụng việc đặt vấn đề gắn với thực tế cuộc sống, nghề nghiệp.
+ Tạo ra những khả năng vận dụng đa dạng, phong phú (vận dụng trong nhiều vd khác nhau).
+ Tạo cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về điều đó (diễn đạt, nhận xét).
+ Tạo điều kiện để người học có thể trao đổi lẫn nhau và trao đổi với giáo viên.
Sử dụng phương pháp tình huống trong giảng dạy là vấn đề cần thiết trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính hiện nay. Bài viết trao đổi về một số yêu cầu trong xây dựng tình huống giảng dạy ở Trường Chính trị Tô Hiệu như sau:
Một là, tình huống giảng dạy phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục đích, nội dung giảng dạy phần học. Khi khai thác, xử lý, giải quyết tình huống phải làm cho người học nhận thấy qua đó có thể lĩnh hội được một phần nội dung bài học, có thể tích hợp nội dung tình huống và nội dung bài học. Đây là nội dung quan trọng nhất, đảm bảo cho quá trình xây dựng tình huống giảng dạy đi đúng hướng. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa mục đích- nội dung và phương pháp dạy học.
Hai là, tình huống giảng dạy được xây dựng phải gắn với hoạt động thực tế, phải là sự chắt lọc những sự kiện, hiện tượng có tính chất điển hình và mang tính khái quát hóa cao. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy. Nguyên tắc này đòi hỏi tình huống giảng dạy cần được xây dựng từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động lãnh đạo, quản lý. Có thể sử dụng những tình huống giả định, những tình huống đã xảy ra trước đó hoặc những tình huống xảy ra ở cơ sở khác… nhưng tốt nhất là nên sử dụng những tình huống có thực diễn ra trong môi trường công tác của học viên, bởi vì những tình huống có tính hiện thực cao thường hình thành cho người học niềm tin và sự ghi nhớ sâu sắc hơn nhiều trong quá trình vận dụng, từ đó tạo nên động lực thúc đẩy HV học tập.
Ba là, tình huống giảng dạy phải mang tính phổ biến. Tình huống phải chứa đựng những vấn đề bức xúc cần giải quyết, thường xảy ra trong hoạt động thực tế của học viên ở cơ quan, đơn vị để từ việc giải quyết những tình huống này, học viên sẽ có khả năng thích ứng nhanh và làm quen với các vấn đề cần giải quyết.Tuy nhiên đôi khi cũng cần phải xây dựng những tình huống ít gặp để học viên làm quen dần và không quá bị bất ngờ đối với bất kỳ loại tình huống nào xảy ra trong công tác của mình sau này.
Bốn là, tình huống giảng dạy phải có kịch tính, tình huống giảng dạy được đưa ra phải gây nên sự tranh cãi ở học viên khi giải quyết tình huống, phải kích thích được tư duy, kích thích được thái độ học tập tích cực của học viên. Nguyên tắc này đòi hỏi vấn đề trong tình huống được trình bày phải mang tính khả thi, đảm bảo những điều kiện cần và đủ để có những giải pháp hợp lý có thể chấp nhận được. Vấn đề có thể gây nên những xung đột về quan điểm giữa các HV và nó cho phép có nhiều con đường lựa chọn để trình bày vấn đề cần giải quyết. Kết quả cuối cùng của việc giải quyết tình huống không phải chỉ là đưa ra được một đáp án đúng cho việc giải quyết một tình huống cụ thể nào đó mà quan trọng hơn là cung cấp cho học viên những bài học kinh nghiệm chung về chiến lược giải quyết tình huống. Giá trị đích thực của tình huống giảng dạy chính là ở chỗ này. Nếu đảm bảo được nguyên tắc này thì tình huống giảng dạy mới trở thành phương tiện, điều kiện và động lực thúc đẩy học viên học tập tốt. Muốn vậy tình huống giảng dạy được xây dựng phải hấp dẫn, phải có kịch tính, kích thích được tư duy sáng tạo trong việc tìm tòi các giải pháp để giải quyết vấn đề.
Năm là, tình huống giảng dạy phải phù hợp với đặc điểm của học viên.
Nguyên tắc này cũng thể hiện tính vừa sức trong quá trình giảng dạy và tôn trọng nguyên tắc sát đối tượng . Điều này có nghĩa là: Nội dung tình huống được đưa ra không quá dễ mà cũng không quá khó, dễ quá thì học viên sẽ coi thường còn tình huống khó quá thì học viên sẽ lo lắng, hoang mang. Trong cả hai trường hợp đều không kích thích được tư duy ở người học, làm hạn chế sự cố gắng, nỗ lực của học viên. Cần lưu ý: tình huống đưa ra sao cho khuyến khích được tất cả học viên giải quyết được với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, cùng với sự trợ giúp của giảng viên và các bạn trong lớp. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý cả về mặt hình thức biểu đạt để sao cho tất cả mọi người khi xem xét tình huống đều hiểu, cần phải tôn trọng những đặc điểm chung của người Việt Nam trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt đồng thời cũng phải tôn trọng những đặc điểm mang tính chất địa phương được thể hiện trong ngôn ngữ địa phương. Điều này khiến cho tình huống giảng dạy trở nên gần gũi và có sức thuyết phục cao.
Sáu là, trong sự trình bày các tình huống giảng dạy không nên cung cấp sẵn sự giải quyết vấn đề được đưa ra cũng như áp đặt trước sự suy nghĩ của học viên. Nếu thực hiện tốt nguyên tắc này thì qua quá trình giải quyết tình huống, các học viên sẽ có cơ hội được chia sẻ với nhau về nội dung tình huống đồng thời còn giúp học viên định hướng được giá trị của họ và những khía cạnh có khả năng xác thực hoặc không xác thực của việc giải quyết mà người học đề xuất. Cho nên hệ thống câu hỏi đưa ra cho học viên giải quyết trong mỗi tình huống chỉ nên là những câu hỏi định hướng cho học viên thực hiện các bước trong quy trình giải quyết tình huống chứ không nên là những câu hỏi gợi ý trước vấn đề cần giải quyết trong quy trình giải quyết tình huống.
Ths. Bùi Thị Hồng Anh
Giảng viên khoa Dân vận
