MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Cập nhật: 05/10/2017 04:29
Mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm, nhất là các nước có chính sách nhằm hạn chế mức sinh. Để nhận biết được hiện tượng này, người ta căn cứ vào tỷ số giới tính khi sinh. Tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai sinh ra sống so với 100 bé gái sinh ra sống trong cùng thời kỳ (thường là trong 01 năm) . Tỷ số giới tính khi sinh cho biết tình trạng cân bằng giới tính của dân số. Việc đánh giá tỷ số giới tính khi sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận biết xu thế cân bằng giới tính khi sinh và xác định những yếu tố tác động. Trên thế giới, tỷ lệ giới tính khi sinh trung bình là khoảng 105 (105 bé trai/100 bé gái). Cao hơn tỷ lệ này được coi là mất cân bằng giới tính khi sinh.
Ở Việt Nam, theo kết quả Tổng điều tra dân số, Điều tra biến động dân số - Kế hoạch hóa gia đình năm 1999, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 107 . Tỷ lệ này biến động qua các năm. Đặc biệt, từ năm 2002 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta có xu hướng tăng nhanh qua các năm, đạt mức 113,8 vào năm 2013 .
Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra ở tất cả các vùng miền trên cả nước, ở cả nông thôn và thành thị, đặc biệt tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng như Hải Dương (118,07), Hưng Yên (119,2), Thái Bình (122),…Mặt khác, khảo sát cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh bị mất cân bằng ngay ở lần sinh thứ nhất (115,2) và đặc biệt cao ở lần sinh cuối cùng (tỷ số giới tính khi sinh trong lần sinh thứ ba trở lên ở nhóm các bà mẹ chưa có con trai lên tới 130) . Đặc biệt, tỷ số giới tính khi sinh cao ở những gia đình có kinh tế khá giả và ở nhóm phụ nữ có trình độ học vấn cao. Thống kê cho thấy, đối với các nhóm dân cư có thu nhập càng cao, tỷ số giới tính khi sinh càng tăng. Tỷ số này ở nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất được khảo sát là 105, ở nhóm có thu nhập cao nhất là 112. Đặc biệt, ở nhóm 20% người giàu nhất được khảo sát, trong lần sinh thứ 3 trở lên, tỷ số giới tính khi sinh đã lên tới 133 .
Xét về nguyên nhân của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta hiện nay có thể thấy, trước hết là do tâm lý thích có con trai trong hầu hết các gia đình Việt Nam. Ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm Nho giáo, tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, truyền thống thờ cúng tổ tiên, cần có con trai để nối dõi tông đường đã tạo ra tâm lý thích có con trai, cần có con trai trong mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ.
Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ hệ thống bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta hiện nay còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe và đời sống tinh thần cho người cao tuổi. Hầu hết người già, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có lương hưu và hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội. Chỗ dựa duy nhất của họ khi về già là con cái, trong đó chủ yếu là con trai. Vì vậy, việc có ít nhất một con trai trong gia đình được coi là “bảo hiểm xã hội” trong quan niệm của nhiều người người cao tuổi.
Thứ ba, gia đình quy mô nhỏ, ít con theo quy định của chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình hiện nay cũng gây áp lực lớn lên việc lựa chọn giới tính khi sinh. Để đảm bảo chấp hành pháp luật về dân số, mỗi gia đình có từ 01 đến 02 con. Quy mô gia đình nhỏ hơn nhưng yếu tố truyền thống, tâm lý thích con trai hoặc thích “có nếp, có tẻ” đã tạo áp lực lớn đối với các lần sinh, nhất là trong lần sinh thứ hai của các cặp vợ chồng.
Thứ tư, sự hỗ trợ tích cực của những tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực y tế, nhất là trong chẩn đoán giới tính thai nhi và phá thai chọn lọc giới tính. Trước khi có các kỹ thuật y tế hỗ trợ, cách duy nhất để có con trai là thực hiện việc sinh đẻ cho đến khi nào đạt được mục đích. Hiện tượng đó được gọi là “quy luật dừng”, trong đó, yếu tố giới tính quyết định việc dừng sinh đẻ của các gia đình. Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ tích cực của các tiến bộ kỹ thuật trong y tế, các cặp vợ chồng có thể lựa chọn giới tính ngay từ trước, trong hoặc sau khi đã có thai. Trong đó, việc lựa chọn giới tính nam là ưu tiên số một của các gia đình khi tiếp cận tới các cơ sở y tế có các thiết bị can thiệp giới tính. Mong muốn có con trai trở nên dễ dàng đạt được hơn.
Tỷ số giới tính khi sinh ngày càng cao, tình trạng mất cân bằng giới tính sẽ gây hậu quả lâu dài tới cơ cấu dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới.
Cơ cấu dân số trong tương lai sẽ thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ nam giới, giảm tỷ lệ nữ giới dẫn đến mất cân bằng về giới trong các nhóm tuổi, kéo theo đó là sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp trong xã hội.
Bên cạnh đó, cơ cấu dân số theo giới tính ở độ tuổi trưởng thành cũng sẽ mất cân bằng theo hướng thừa nam, thiếu nữ. Hậu quả là sẽ có một tỷ lệ nam giới nhất định đến tuổi kết hôn phải trì hoãn hoặc không thể kết hôn. Theo tính toán, với tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh hiện nay, dự tính đến năm 2050, Việt Nam sẽ phải đối mặt với thực trạng dư thừa từ 2,3 đến 4,3 triệu nam giới . Hậu quả kéo theo là việc xuất hiện cấu trúc gia đình nam giới sống độc thân, nhất là những nam giới có địa vị kinh tế, địa vị xã hội thấp, không có khả năng lấy vợ hoặc xu hướng “nhập khẩu cô dâu” như nhiều nước châu Á hiện nay, từ đó cũng làm thay đổi đặc điểm nhân khẩu trong các gia đình Việt Nam.
Hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh còn tác động tiêu cực đến giới nữ. Có hàng triệu bé gái đã bị tước đi quyền thiêng liêng nhất của con người - quyền sống ngay từ khi còn trong bào thai. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt phụ nữ còn làm gia tăng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, nạn mại dâm, hiện tượng kết hôn sớm ở phụ nữ,…tác động tiêu cực đến sự ổn định và phát triển xã hội.
Thực trạng trên đặt ra yêu cầu, đòi hỏi đối với ngành dân số nói riêng và toàn xã hội nói chung phải có những biện pháp tích cực nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.
Chiến dịch “Chung tay giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh” do Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNFPA) phát động nhằm tăng cường các biện pháp giảm thiểu tình trạng này. Trong chuỗi các hoạt động thuộc chiến dịch, ngày 09/10/2014 vừa qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế đã ký kết “Chương trình phối hợp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2014 đến 2020”, trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất cơ chế, chính sách liên quan đến bình đẳng giới nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính và truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, thực hành về bình đẳng giới nhằm giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh. Nhiều địa phương, trong đó có thành phố Hải Phòng đã xây dựng và đang tích cực triển khai thực hiện Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” nhằm khống chế tỷ số giới tính khi sinh trên các địa bàn.
Trong thời gian tới, nhằm giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, cần tăng cường hơn nữa công tác truyền thông, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, về giới và bình đẳng giới, thường xuyên cập nhật về hiện trạng cũng như hậu quả mất cân bằng giới tính khi sinh nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong lĩnh vực này. Trong đó, công tác tuyên truyền đặc biệt lưu ý hướng tới nhóm đối tượng là những người uy tín trong cộng đồng, già làng, trưởng bản, trưởng họ, chức sắc tôn giáo,…Đưa việc thực hiện bình đẳng giới, việc không lựa chọn giới tính thai nhi vào hương ước, quy ước, quy định của thôn, bản, dòng tộc,…
Ban hành, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về nghiêm cấm các hình thức lựa chọn giới tính thai nhi. Trong thời gian qua, việc cấm lựa chọn giới tính khi sinh đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Pháp lệnh Dân số, Nghị định 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định cụ thể việc nghiêm cấm và xử phạt các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế,…Trong thời tới, cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy định về không thực hiện chẩn đoán, cung cấp thông tin giới tính, không thực hiện kỹ thuật lựa chọn giới tính thai nhi, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định trên, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt các quy định pháp luật.
Thực hiện Luật Bình đẳng giới, tăng cường các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, các chính sách ưu tiên nữ, hỗ trợ, nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ và trẻ em gái; nâng cao chất lượng đảm bảo an sinh xã hội, nhất là đối với nhóm đối tượng là người cao tuổi ở nông thôn.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, sự cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống, hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh có thể còn tiếp tục gia tăng. Do đó, thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp trên là yêu cầu cần thiết để giảm thiểu tình trạng này, hướng đến sự cân bằng về giới tính trong cơ cấu dân số, vì sự ổn định và phát triển chung của xã hội.
Ths. Bùi Thị Hồng Anh
Giảng viên khoa Dân vận



Các tin đã đăng