Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn của chặng đường 75 năm phát triển

Cập nhật: 05/01/2021 21:43

Phạm Thị Dung[1]

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong muôn vàn khó khăn của những ngày đầu độc lập, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội khóa I vào ngày 06/01/1946. Bảy mươi lăm năm đã trôi qua kể từ những ngày tháng lịch sử hào hùng ấy, Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đổi mới và đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày 06/01/1946 đã ghi vào lịch sử Việt Nam một mốc son chói lọi. Ngày mà lần đầu tiên người dân Việt Nam thông qua lá phiếu của mình được quyền trực tiếp lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà, đánh dấu sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam.

Sau gần một thế kỷ đấu tranh giành độc lập, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành công dân của một nước độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, tôn giáo, giai cấp, đảng phái từ 18 tuổi trở lên đều tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khoá I. Tất cả 71 tỉnh, thành trong cả nước lúc đó, với 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã thành công tốt đẹp.

Nhìn lại chặng đường 75 năm đã qua, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 14 khóa với các thời kỳ hoạt động khác nhau, dù ở mỗi thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng đều đóng góp có tính quyết định vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước, của Nhân dân ta. Qua từng thời kỳ, Quốc hội Việt Nam đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng với những dấu ấn lịch sử, góp phần to lớn và quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Thời kỳ 1946 – 1960, Quốc hội Việt Nam đã cùng với dân tộc trải qua nhiều khó khăn, gian khó để thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong 14 năm hoạt động, với 12 kỳ họp Quốc hội khoá I (1946-1960) đã có những đóng góp to lớn vào việc xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa từ những năm tháng đầu tiên sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Trong thời kỳ này, Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc thành lập Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và "trao quyền bính cho chính quyền ấy", bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Từ năm 1954 đến năm 1960, Quốc hội đã phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà theo quy định của Hiệp định Genève. Những năm đầu sau khi hòa bình lập lại, Quốc hội cũng đã thông qua các kế hoạch khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến dần từng bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Quốc hội khóa I đã xem xét, thông qua bản Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta, Hiến pháp của thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kháng chiến, kiến quốc và Hiến pháp 1959 - Hiến pháp của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thời kỳ này Quốc hội cũng đã xem xét và thông qua 16 đạo luật và 50 nghị quyết, trong đó có những đạo luật quan trọng như: Luật Cải cách ruộng đất, Luật quy định quyền tự do hội họp, Luật quy định quyền lập hội, Luật về chế độ báo chí…

Đánh giá công lao to lớn của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những đại biểu của nhân dân” tại kỳ họp thứ 12.

Thời kỳ 1960 – 1980, Trong giai đoạn này, Nghị viện nhân dân được đổi tên là Quốc hội và được tổ chức theo các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Quốc hội ngày 14/7/1960.

Đây là thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam với 5 khóa hoạt động, trong đó có 4 khóa Quốc hội phải hoạt động trong điều kiện đất nước bị chia cắt, đó là: khóa II (1960-1964), khóa III (1964-1971), khóa IV (1971-1975), khóa V (1975-1976). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), kể từ khóa VI (1976-1981), Quốc hội trở thành Quốc hội chung của cả nước Việt Nam thống nhất.

Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Quốc hội đã quy định Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI. Quốc hội quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca; chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh; quy định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp 1980. Bản Hiến pháp thứ ba này là Hiến pháp của thời kỳ đất nước thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng. 

Thời kỳ 1980 – 1992, Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981.

Đây là thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn của đất nước, vừa đấu tranh chống chọi với thù trong, giặc ngoài, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời phát triển kinh tế đất nước. Quốc hội khóa VII, VIII đã chèo lái đất nước vượt qua những thăng trầm của lịch sử, trong bối cảnh chịu tác động rất lớn từ hệ quả sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Quốc hội đã sáng suốt ban hành bản Hiến pháp cho sự đổi mới - Hiến pháp năm 1992, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển theo tinh thần mở rộng hợp tác phù hợp với xu thế thời đại. Kế thừa và phát triển các bản Hiến pháp trước đây, ngoài việc thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, Hiến pháp 1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển trong giai đoạn mới. Quốc hội đã quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng, cấp bách về kinh tế - xã hội và thi hành pháp luật, nhằm nâng cao vai trò và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. 

Thời kỳ 1992 đến nay, trên nền tảng tư tưởng Hiến pháp năm 1992, Quốc hội từ khóa IX đến khóa XIV đã quyết định nhiều vấn đề trọng đại, đưa nước ta phát triển lên tầm cao mới, từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Quốc hội khóa IX (1992 - 1997) tập trung thể chế hóa Cương lĩnh và chiến lược, ổn định phát triển kinh tế, đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VII, tiến hành đồng bộ, hiệu quả các hoạt động lập pháp, giám sát quyết định các vấn đề trọng yếu của đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển thời kỳ mới.

Quốc hội khóa X (1997-2002) là Quốc hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quốc hội đã góp phần xác định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức, hoạt động bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội, hoạt động nhân dân. Các luật, pháp lệnh được Quốc hội thông qua đã đáp ứng tích cực yêu cầu thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề trọng yếu trong xã hội, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. 

Quốc hội khóa XI (2002 - 2007) tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh, chiến lược của Đảng; cụ thể hóa đường lối, chính sách hai kỳ Đại hội VIII và Đại hội IV đã đề ra; đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa Việt Nam, vào năm 2020 là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.; Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đổi mới và phát triển đất nước. 

Kế thừa và phát huy những thành quả của Quốc hội các khóa trước, Quốc hội khóa XII (2007 - 2011) nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ toàn diện về tổ chức, phương thức hoạt động, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Quốc hội khóa XIII (2011-2016) đã có những đổi mới quan trọng trong xu thế nước ta hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đa dạng trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. Đặc biệt Quốc hội đã để lại dấu ấn nổi bật trong hoạt động lập hiến, lập pháp. Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, một bản Hiến pháp thể hiện tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo ra khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội trên nền tảng dân chủ, pháp quyền và tạo ra động lực mạnh mẽ để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (được bổ sung, phát triển vào năm 2011). Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII cũng đã đánh dấu một dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động của mình, Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII cũng đánh dấu sự thành công vượt bậc trong hoạt động đối ngoại của Quốc hội. Việc đăng cai tổ chức Đại hội đồng lần thứ 132 của Liên minh Nghị viện Thế giới tại Hà Nội trong tháng 3/2015 là một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử ngoại giao hết sức to lớn, thể hiện tinh thần chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng của Quốc hội nước ta, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp và những thành tựu to lớn của các khóa Quốc hội trước đó, Quốc hội khóa XIV (2016 - 2021) đã có nhiều sự đổi mới với những dấu ấn đậm nét. Quốc hội đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hoạt động giám sát ngày càng thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội phát huy vai trò là kênh đối ngoại quan trọng, vừa mang tính đối ngoại nhà nước, vừa mang tính nhân dân sâu sắc, đóng góp tích cực vào thành công chung trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Nhiệm kỳ này đã có sự đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Quốc hội như đổi mới cách thức thảo luận từ Quốc hội “tham luận” sang Quốc hội “tranh luận” và có bước tiến vượt bậc trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh đó, Quốc hội tiếp tục có nhiều đổi mới trong cách thức tổ chức kỳ họp Quốc hội để thích nghi trong mọi hoàn cảnh.

Có thể khẳng định, thời kỳ này, Quốc hội đã có những đổi mới cơ bản, khắc phục tính hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các khóa trước và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong chặng đường 75 năm qua, Quốc hội Việt Nam luôn luôn là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Quốc hội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và không ngừng lớn mạnh. Sự phát triển của Quốc hội là một quá trình liên tục kế thừa và không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, hoạt động ngày càng chất lượng, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước, được Nhân dân, cử tri cả nước đồng tình ủng hộ, tín nhiệm. Song, nhiệm vụ phía trước của Quốc hội còn rất nặng nề, đòi hỏi hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần phải tiếp tục đổi mới, cải tiến hơn nữa để hoàn thành ngày càng tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến pháp và pháp luật quy định và kỳ vọng của Nhân dân./.



[1] ThS, GVC khoa Xây dựng Đảng

Các tin đã đăng