Đại tướng Lê Đức Anh - Nhà quân sự lớn, nhà chính trị tầm cỡ

Cập nhật: 08/12/2020 21:49

TS. Nguyễn Đình Hoàng
Trưởng khoa Xây dựng Đảng
 

  Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh sinh ngày 01-12-1920 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Truổi, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngay từ khi còn nhỏ đã chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, người dân nô lệ mất nước sống trong cảnh cơ cực bị áp bức bởi thực dân, phong kiến, nên đã sớm hun đúc trong ông lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng bất khuất. Ông sớm giác ngộ và tích cực tham gia hoạt động cách mạng ngay từ quê nhà. Ông tham gia quân đội ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và bắt đầu sự nghiệp quân sự đầy gian khổ và oanh liệt. Hai cuộc chiến tranh trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã tôi luyện ý chí và tài năng, giúp ông trưởng thành và có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

1. Nhà quân sự lớn

Trong cuộc đời binh nghiệp, Đại tướng Lê Đức Anh đã đảm nhiệm những cương vị trọng trách do Đảng, Nhà nước giao phó, ông đã trực tiếp tham gia và hoàn thành những nhiệm vụ to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Tháng 8-1945, ông được phân công chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp thuộc tỉnh Thủ Dầu Một, chi viện cho Sài Gòn giành chính quyền. Đầu năm 1946, ông được điều làm Chính trị viên Chi đội 1 ở tỉnh Thủ Dầu Một, sau được đổi tên là Trung đoàn 301. Tháng 12-1948, Bộ Chỉ huy Khu 7 và Khu Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên là Bộ Tư lệnh khu, ông được cử làm Tham mưu trưởng. Trong thời gian này, cùng với các đồng chí lãnh đạo khác, ông chủ trương mở rộng phong trào đấu tranh chính trị trong toàn thể công nhân, học sinh, sinh viên và các tầng lớn nhân dân đô thị hướng vào mục tiêu đấu tranh chống chính phủ bù nhìn và thực dân Pháp; mở rộng các căn cứ, bổ sung lực lượng của ta, cắt đường vận tải và tiếp tế, tiêu diệt địch vùng Dầu Tiếng – Bến Cát.

Lăn lộn với chiến trường miền Nam, với nhiều cương vị quan trọng, chỉ huy, chỉ đạo các cơ quan xác định các phương châm tác chiến tổ chức vừa bám trụ đánh địch, tiêu diệt địch, vừa bảo đảm phục vụ chiến đấu, duy trì cuộc sống và sinh hoạt trong căn cứ để đánh địch lâu dài. Với những phương cách chỉ huy đánh địch có chiều sâu và chiều rộng phòng ngự liên hoàn, ông đã góp phần không nhỏ vào cuộc Tổng tiến công đồng loạt Tết Mậu thân năm 1968.

Ngày 16-4-1974, ông được Đảng và Nhà nước phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1975, ông giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh và phụ trách chỉ huy một cánh quân theo hướng khó khăn nhất là hướng Tây – Tây Nam Sài Gòn, tạo thế bao vây, tiến công thần tốc góp phần quan trọng vào giải phóng Sài Gòn, thông nhất đất nước.

Từ năm 1976 đến năm 1980, ông được giao các chức vụ Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, kiêm Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam. Tháng 01-1981, ông được phong quân hàm từ cấp Trung tướng lên Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và tháng 6-1981, được Chủ tịch nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Đến tháng 12-1984, ông được Đảng và Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng và được giao giữ trọng trách Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào năm 1986. Tháng 2-1987, ông được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Với những trọng trách này, ông đã cùng nhiều đồng chí lãnh đạo khác tập trung nghiên cứu, xây dựng chiến lược quốc phòng, kế hoạch phòng thủ cơ bản trong thời kỳ mới, đảm bảo mục tiêu đánh lâu dài, giảm chi phí quốc phòng, phát huy được sức mạnh toàn dân, toàn diện, tạo lên sức mạnh phòng thủ đất nước, chống lại mọi tình huống chiến tranh. Xây dựng các khu vực phòng thủ vững mạnh; chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại. Đổi mới xây dựng quân đội chính quy, củng cố nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Nhà chính trị tầm cỡ

Là một nhà quân sự mà thành tích của ông gắn liền những chiến thắng vẻ vang của cách mạng Việt Nam xuyên suốt các thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam; Đại tướng Lê Đức Anh còn là một nhà hoạt động chính trị lão luyện. Ngay từ năm 1937, ông đã tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế và năm 18 tuổi, ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong những giai đoạn 1939 - 1943, cách mạng bị địch khủng bố, đàn áp khốc liệt, ông và những đồng chí của mình rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục chỉ đạo phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở Thủ Dầu Một, dần gây dựng lực lượng, đón bắt thời cơ phát động quần chúng nhân dân địa phương vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Khi tham gia Quân đội chỉ huy nhiều trận đánh, chiến dịch được ghi vào lịch sử, Đại tướng Lê Đức Anh đã nhuần nhuyễn giữa hoạt động đấu tranh vũ trang kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị.

 Năm 1982, Đại tướng Lê Đức Anh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Lúc này, với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, ông đã góp phần giúp nước bạn tiến công, truy quét kẻ thù và giúp ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở nước bạn.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), ông được bầu vào Bộ Chính trị và tháng 02-1987, được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 6-1991, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, ông được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị. Ngày 23-9-1992, Quốc hội (khóa IX) đã bầu ông làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông đã cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sau 04 năm thực hiện đường lối đổi mới, dù chưa ra khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội, nhưng đất nước ta đã giữ vững được ổn định chính trị, tiếp tục xây dựng và thực hiện mục tiêu tổng quát cho 5 năm 1991-1995 là vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Tại Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996), ông tiếp tục được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị. Đây là thời kỳ đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước với sự nỗ lực rất cao của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có sự đóng góp đáng kể của Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

 Tháng 12-1997, tại Hội nghị Trung ương lần thứ Tư khóa VIII, do tuổi cao, ông xin thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương, thôi giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Ban Chấp hành Trung ương suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 4-2001, ông đã nghỉ hưu sau khi thôi giữ chức Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng sau gần 80 năm hoạt động cách mạng kiên cường, không mệt mỏi.

Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân cộng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Nói về ông, trong Lời tựa của cuốn Hồi ký “Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng” của Đại tướng Lê Đức Anh, Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười đã viết: “Đồng chí Lê Đức Anh một trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước ta”. Nhìn lại quá trình hoạt động cách mạng không mệt mỏi của nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh cho thấy, dù ở cương vị đảm trách khác nhau, dù thuận lợi hay khó khăn, ông luôn nỗ lực vượt qua, làm tròn nhiệm vụ của mình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; luôn xứng đáng là một người cộng sản kiên cường, hết lòng phụng vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà quân sự tài ba, nhà lãnh đạo tài ba, đức độ của Đảng và dân tộc.

* Tài liệu tham khảo:

Đại tướng Lê Đức Anh: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2015

Các tin đã đăng