Hải Phòng đón Hồ Chí Minh vị sứ giả giương cao ngọn cờ độc lập tự do đi từ Á sang Âu, lại từ Âu về Á

Cập nhật: 19/10/2021 23:09

Ngày 20/10/1946 - Sau khi thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước tại bến Cầu Ngự - Cảng Hải Phòng

1- Dân tộc Việt Nam, một dân tộc có ngàn năm văn hiến đã sinh ra Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, vị lãnh tụ thiên tài, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.

Hoài bão lớn nhất của Hồ Chí Minh là Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được tự do và hạnh phúc. Suốt đời của Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [1]. Với hoài bão đó, Hồ Chí Minh đã nhận lấy trách nhiệm lịch sử, bôn ba các châu lục trên thế giới để suy tìm một giải pháp giải phóng phù hợp với nhu cầu tiến hóa của dân tộc theo xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại trong thời đại mới. Người đã nghiên cứu, tiếp biến và phát triển biện chứng nguồn giá trí văn hóa tư tưởng truyền thống trong đó cốt lõi là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do của tổ tiên ta, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, đặc biệt là học thuyết giải phóng của Mác và Lênin, đã xây dựng được một hệ thống quan điểm toàn diện và sáng tạo về giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, tạo lập một thể chế quyền lực của “quần chúng số nhiều”, của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc Việt Nam. Hệ thống quan điểm đó mang tầm vóc của một học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc, vì độc lập tự do đã trở thành nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam ta.

Dưới ánh sáng của học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh, Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã xây dựng cương lĩnh chính trị, đề ra đường lối, chủ trương và phương pháp cách mạng qua các chặng đường đấu tranh giải phóng và phát triển của dân tộc, nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập và tự do được xác định ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Hội nghị thành lập Đảng họp tại Hồng Kông  từ ngày 6-1-1930 thông qua. Tháng 5-1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định chiến lược cách mạng Việt Nam (của ba nước trên bán đảo Đông Dương) lúc bấy giờ là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm thực hiện hai điều cốt yếu mà toàn thể đồng bào ta đang mong ước là: làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Sau khi đánh đuổi được Pháp, Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần dân chủ mới. Chính phủ nước Việt Nam mới theo thể chế Cộng hòa dân chủ chứ không phải là chính phủ Xô viết công nông binh. Chính quyền cách mạng của nước Việt Nam dân chủ mới ấy không phải thuộc về riêng của một giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ lấy ngọn cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc và do Quốc dân đại hội cử lên.

Đường lối, chủ trương cách mạng khoa học và sáng tạo của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941, dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh) đã đáp ứng nhu cầu bức thiết và nóng hổi của cả dân tộc, đưa ra giữa lúc “Nhân dân Việt Nam… ai ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập tự do và đang trong tư thế một người lên tiếng, vạn người ủng hộ” nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống hành động của dân tộc, làm dấy lên trong toàn quốc một phong trào giải phóng ngày càng rộng lớn dẫn đến cao trào kháng Nhật cứu nước mà đỉnh điểm là cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi trong cả nước, lập nên một nướ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh là Chủ tịch Chính phủ- một chính phủ quôc gia thống nhất, tiêu biểu cho Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ.

Ngày 2-9-1945, Hà Nội rợp bóng cờ đỏ sao vàng, hoa và biểu ngữ. Hàng chục vạn đồng bào đã kéo về tập trung tại vườn hoa Ba Đình để dự lễ độc lập.

Trên lễ đài, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc; lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, những người dân của một quốc gia mới được hồi sinh. Thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời.

Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định quyền dân tộc của các nước trên thế giới là bất khả xâm phạm. Đó là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [2]. Đối với Việt Nam, “Một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”. Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố với thế giới rằng:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[3].

Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam, nêu cao ý chí của toàn dân tộc quyết giữ vững quyền độc lập, tự do, bảo vệ chế độ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc xong bản tuyên ngôn độc lập, hàng chục vạn đồng bào giữa vườn hoa Ba Đình đã đồng loạt hô vang lời thề độc lập, nguyện cùng chính phủ quyết giữ gìn độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù chết cũng cam lòng.

Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Tháng 8 – 1945 với sự ra đời của một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu một bước nhảy vọt mới trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam. Một kỷ nguyên mới đã được mở ra – kỷ nguyên Dân chủ Cộng hòa – độc lập tự do.

2- Cục diện thế giới cuối và sau đại chiến thế giới lần thứ hai đã tác động sâu sắc và rộng lớn đến nhiều mối quan hệ quốc tế, ảnh hưởng khá phức tạp đến Việt Nam, nơi có nhiều nước lớn dính líu và can thiệp vào với mức độ khác nhau. Riêng thực dân Pháp đã sớm tìm cách trở lại Việt Nam và đã bắt đầu nổ súng ở Sài Gòn ngay từ 23-9-1945, mở đầu cuộc tái xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam mới thành lập đã đứng trước một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta tiếp diễn. Khẩu hiệu chiến lược cách mạng lúc này vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Giữ vững, bảo vệ nhà nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách và thiêng liêng của dân tộc ta lúc này. Vì vậy, chủ trương chính sách đối nội cũng như đối ngoại của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là vừa phải giữ vững nguyên tắc, vừa phải linh hoạt về sách lược trước mọi tình thế mới thực hiện được mục tiêu giữ vững quyền độc lập, tự do.

Tuyên ngôn độc lập của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là cơ sở pháp lý đầu tiên về đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam mới.

Diễn văn của Bộ trưởng Nội vụ đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 đã nêu lên nội dung cơ bản về chính sách ngoại giao của Việt Nam với Mỹ - Pháp - Trung Hoa và các nước khác. Ngày 3-10-1945, Bộ Ngoại giao ra Thông cáo về Chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Căn cứ vào tình hình quốc tế, vị thế và thực lực của nước Việt Nam cùng với sách lược ứng đối ngoại giao của chính phủ có quan hệ với nhau nhằm mục đích cốt yếu là giúp cho sự đấu tranh giành được thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay quyết liệt tùy thuộc thái độ của các nước. Ngoại giao là một “nghệ thuật có thể” trên bàn đàm phán với đối phương song bao giờ yếu tố thực lực bên trong của mình cũng giữ vai trò quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái trống. Chiêng có to tiếng mới lớn”[4].

Dựa trên cơ sở pháp lý về quyền tự do và độ lập đã nêu ra trong bản Tuyên ngôn độc lập và thực lực cụ thể của nước ta trong năm đầu của chế độ mới, thực hiện “nghệ thuật có thể” trên mặt trận ngoại giao với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội cùng ký với Giăng Xanhtơny, đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ vào chiều ngày 6-3-1946.

Việc ký Hiệp định sơ bộ giúp cho chúng ta tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu cùng một lúc chống lại nhiều lực lượng đế quốc lớn, bảo toàn thực lực, tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố vị trí đã giành được, chấn chỉnh và phát triển lực lượng để tiến lên.

Các thỏa thuận được ghi trong Hiệp định đã mở rộng khuôn khổ nội dung và đặt cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh ngoại giao tiếp theo giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ Pháp, dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng. Đây là một nhãn quan chính trị sáng suốt và nhạy bén trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình, vào thời điểm khi chính phủ Tưởng Giới Thạch và chính phủ Pháp Đờ Gôn đã thỏa thuận và nhân nhượng với nhau về quyền lợi bằng việc ký Hiệp ước Hoa Pháp ngày 28-2-1946.

Ngày 7-3-1946, trước cuộc mít tinh lớn của nhân dân Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chọn thương lượng thay vì đánh nhau là bằng chứng hiểu biết về chính trị”[5]. Và khi nói chuyện với các ủy vien tuyên truyền các tỉnh ở Bắc bộ, Người lại nhấn mạnh “Muốn đi cho đúng với thời cuộc, chúng ta nên đặt lý trí trên cảm tính. Và muốn nhận định thời cuộc, chúng ta không thể không đứng ở vị trí khách quan”.

Còn Giăng Xanhtơny có kể lại rằng, đến ngày 6-3-1946, sau khi ký Hiệp định sơ bộ, ông ta bày tỏ vui mừng với Bác Hồ vì đã tránh được sự xung đột vũ trang thì Người thẳng thắn nói: “Tôi chưa hài lòng. Ông đã biết đấy, tôi còn muốn được hơn này. Nhưng cuối cùng tôi nghĩ rằng không thể đạt được tất cả mọi thứ chỉ trong một ngày”. Và Xanhtơny nhận xét: “Đó là chính sách giành thắng lợi từng phần”[6].

Hiệp định sơ bộ đã ghi rõ phải sớm mở các cuộc thương lượng tiếp theo để giải quyết các vấn đề ngoại giao, về quy chế tương lai của Đông Dương, các lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam đã đấu tranh đòi Chính phủ Pháp phải nhanh chóng mở cuộc đàm phán chính thức. Ngày 24-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ, trao đổi với Cao ủy Pháp Đắc giăngliơ trên chiến hạm Êm lơ Béctanh tại vịnh Hạ Long. Qua cuộc trao đổi này và các lần tiếp theo đó, một đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam đi Pa ri đàm phán để ký một hiệp định chính thức. Chính phủ Pháp cũng mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp trong dịp này. Các thỏa thuận này là một thắng lợi về ngoại giao tiếp theo việc ký Hiệp định sơ bộ.

Thực hiện các thỏa thuận trên, Hội nghị trù bị Đà Lạt đã diễn ra từ ngày 19-4 đến ngày 11-5-1946 gồm 4 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp ở các tiểu ban. Đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam gồm có 13 thành viên do Nguyễn Tường Tam – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm trưởng đoàn và Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp làm phó đoàn. Qua 22 ngày đám phán, đấu tranh căng thẳng, Hội nghị trù bị ở Đà Lạt không đạt được một thỏa thuận cụ thể nào. Song qua hội nghị này, Việt Nam hiểu rõ ý đồ của thực dân Pháp để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức sắp tới ở nước Pháp.

Cũng trong thời gian này, đoàn đại biểu hữu nghị của Quốc hội Việt Nam gồm 10 thành viên do Phạm Văn Đồng, Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội dẫn đầu đã đi thăm nước Pháp. Phái đoàn đã tiếp xúc với các chính giới, làm cho nhiều chính khách của Pháp, nhất là nhân dân Pháp có thiện cảm với cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Việt Nam. Việt kiều ở Pháp cũng vui mừng hân hoan được đón chào phái đoàn, những đại biểu của quốc dân Việt Nam, một bước vừa giành được độc lập tự do, một dân tộc quyết bảo vệ quyền độc lập tự do ấy. Tiếp theo Hội nghị trù bị Đà lạt, ngày 31- 5- 1946, phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm 20 thành viên do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đã lên đường sang đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đi thăm nước Pháp với danh nghĩa là thượng khách của Chính phủ Pháp.

Ngày 30- 5-1946, trước khi rời Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”[7]. Người cũng đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ nói rõ: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”[8].

Ngày 22-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, nơi 23 năm về trước, Người đã bí mật ra đi để sau đó về nước tổ chức cuộc vận động cứu nước, giải phóng dân tộc và đã bị chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam kết án tử hình, để rồi hôm nay nước Pháp lại đón Người với tư cách là một nguyên thủ quốc gia, một thượng khách của chính phủ Pháp, một sứ giả mang ngọn cờ độc lập tự do và hoà bình hữu nghị của Việt Nam đến Chính phủ và nhân dân Pháp.

Trong thời gian ở thăm Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các chính giới, các đảng phái chính trị, các nhà trí thức để tỏ rõ lập trường của Việt Nam trong cuộc đàm phán chính thức Việt  - Pháp.

Trong đáp từ của Hồ Chủ tịch tại buổi chiêu đãi của Gióocgiơ Biđôn, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ Pháp, Người nói: Pari là thành phố đã nêu cao lý tưởng bất hủ của cuộc cách mạng 1789 và vẫn trung thành với lý tưởng đó. Chắc hẳn có nhiều khó khăn đang chờ đợi ở hội nghị đàm phán chính thức Việt – Pháp lần này. Nhưng sự thành thực và tin cậy lẫn nahu sẽ san phẳng mọi trơt ngại. Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Đó là: Triết lý Đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)[9].

Ngày 6-7-1946, hội nghị đàm phán ngoại giao Việt – Pháp khai mạc ở Phôngtennơblô, cách Pari chừng 60 km. Tại phiên khai mạc, Phạm Văn Đồng đã nêu rõ lập trường đàm phán của Việt Nam và nhấn mạnh: “Chúng tôi yêu mến Tổ quốc của chúng tôi, cho nên chúng tôi muốn cộng tác với nước Pháp, trong một đại gia đình gồm những nước dân chủ, tự do. Chúng tôi muốn tham gia vào Liên bang Pháp quốc, xây đắp trên cái nền bình đẳng, bắc ái. Chúng tôi tin rằng nếu theo chính sách đó thì cuộc đàm phán có kết quả hay”[10].

Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi sát tình hình và kịp thời nêu ra các quan điểm về quan hệ Việt- Pháp. Ngày 12-7-1946, Người đã tuyên bố với các nhà báo về lập trường đàm phán của Việt Nam như sau:

1- Việt Nam đòi quyền độc lập. Độc lập nhưng không phải là đoạn tuyệt với Pháp, mà ở trong Liên hiệp Pháp… Về mặt kinh tế và văn hoá, Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp.

2- Việt Nam tán thành Liên bang Đông Dương…nhưng kiên quyết không chịu có một Chính phủ Liên bang.

3- Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không một lực lượng nào có thể chia rẽ.

4- Việt Nam sẽ bảo vệ tài sản của người Pháp. Việt Nam giữ quyền mua lại những sản nghiệp có quan hệ đến quốc phòng.

5- Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam ưu tiên dùng người Pháp.

6- Việt Nam có quyền phái sứ thần và lãnh sự đến các nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Chúng tôi không muốn đẩy người Pháp ra khỏi Việt Nam. Nhưng chúng tôi nói với họ: các người hãy phái đến nước chúng tôi những kỹ sư, những nhà khoa học, những vị giáo sư, phái đến những người họ biết yêu chuộng chúng tôi. Nhưng chớ phái những người họ muốn bóp cổ chúng tôi”[11].

Lập trường của Việt Nam về mối quan hệ Việt – Pháp là chính nghĩa vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước, thái độ chân thành, thân thiện. Song, ngay từ đầu cuộc đàm phán đã diễn ra căng thẳng về nội dung các vấn đề đưa ra thương thảo. Còn ở Việt Nam, quân đội Pháp đã vi phạm Hiệp định sơ bộ 6-3.

Lập trường của Chính phủ Pháp trong cuộc đàm phán Việt- Pháp là không chấp nhận các quyền dân tộc cơ bản, quyền độc lập, tự do và thống nhất của Việt Nam…Vì thế cuộc đàm phán Việt- Pháp đã không đưa đến một thoả thuận chính thức nào.

Phái đoàn Việt Nam đã rời nước Pháp, đáp tàu biển về nước song vẫn tuyên bố rõ thiện chí hoà đàm với Pháp. Một nền hoà bình mong manh sắp đổ vỡ. Nguy cơ một cuộc chiến tranh sẽ có thể sớm bùng nổ trên toàn quốc Việt Nam. Phải cố gắng cứu vãn tình thế, kéo dài thêm thời gian hoà hoẵn. Trọng trách lịch sử đó đè nặng lên vai Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục cầm lái con thuyền dân tộc vượt qua những hiểm nghèo trước mắt. Người đã quyết định ở thêm ít ngày nữa tiếp tục thương lượng với Chính phủ Pháp.

Ngày 12-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cho M.Mutê, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp một dự án gồm 11 điểm về một số nhân nhượng.

 Ngày 14-9-1946, M.Mutê gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh một dự án của Pháp.

Đến nửa đêm ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp M.Mutê. Hai bên đã trao đổi, đến 1 giờ sáng ngày 15-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê đã ký bản Tạm ước Việt Pháp gồm 11 điều khoản.

Nội dung Tạm ước là một sự thoả thuận có tính tạm thời về mốt số vấn đề, chủ yếu là các vấn đề kinh tế, tài chính, văn hoá. Còn các vấn đề tổng thể sẽ được bàn trong một cuộc đàm phán tiếp theo càng sớm càng hay và chậm nhất là vào tháng 1-1947.

Ngày 19-9-1946, Hồ Chủ tịch và đoàn cán bộ, trí thức yêu nước Việt Nam ở Pháp lên tàu Đuymông Đuyếcvin tại cảng Tulông, rời Pháp trở về Tổ quốc.

Chiều ngày 20-10-1946, tàu Đuymông Đuyếcvin cập Bến Ngự Hải Phòng. Đoàn đại biểu Quốc hội, Chính phủ từ Hà Nội xuống thành phố cảng cùng với đại biểu Đảng bộ, quân đội và nhân dân Hải Phòng đã vui mừng đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị sứ giả giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng, ngọn cờ độc lập, tự do đi từ Á sang Âu, rồi từ Âu về Á, đâu đâu cũng được chào kính cẩn. Một đơn vị quân đội Pháp cũng tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 21-10, Người cùng Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Kháng chiến uỷ viên hội Võ Nguyên Giáp và các đại biểu Trung ương đi đón Người lên chuyến xe lửa đặc biệt về Hà Nội. Tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội), Người cùng các đại biểu Quốc hội, Chính phủ và tướng Móoclie duyệt đội quân danh dự do Bộ chỉ huy quân sự Pháp cử đến đón.

Ngày 23-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân đồng bào về kết quả mà Người và phái đoàn Việt Nam trong hơn 4 tháng hoạt động, hoà đàm ở Pháp. Người nói:

1- Chúng tôi đã đem lá quốc kỳ Việt Nam qua đến nước Pháp. Lá quốc kỳ ta đã được Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp trọng thị, đã được người các nước trọng thị.

2- Chúng tôi đã làm cho Chính phủ và nhân dân Pháp chú ý và hiểu rõ vấn đề Việt Nam hơn trước. Mà thế giới cũng chú ý và hiểu rõ vấn đề Việt Nam hơn trước.

3- Chúng tôi đã làm cho số đông người Pháp trở nên bạn hữu của dân Việt Nam, hết sức tán thành Việt Nam độc lập và Việt Pháp cộng tác một cách thật thà, bình đẳng.

4- Chúng tôi đã làm cho địa vị các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và lao động Việt Nam được nâng cao thêm, vì các tổ chức thế giưới đã công nhận các đoàn thể của ta là hội viên.

5- Hội nghị Việt – Pháp chưa kết thức, tháng Giêng năm sau sẽ tiếp tục. Nhưng thoả hiệp Tạm ước 14-9, một là làm cho hai bên Việt – Pháp dễ làm ăn, hai là dọn đường cho cuộc hội nghị sau này tiến hành được thân thiện”[12].

Xuất phát từ tương quan lực lượng đối sánh giữa Việt Nam và Pháp cũng như bối cảnh khu vực và quốc tế lúc bấy giờ, thực hiện chủ trương hoà hoẵn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chúng ta cần hoà bình để xây dựng đất nước, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng, đã ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9-1946. Nhưng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Vì những người cầm đầu Chính phủ Pháp lúc bấy giờ dù có khác nhau trong cách giải quyết vấn đề Việt Nam song đều có chung một quyết tâm là giành lại quyền thống trị của chúng trên đất nước ta (cả Lào và Cămphuchia). Vì thế các hiệp định vừa ký chưa ráo mực đã bị phía Pháp phản bội. Chúng đã gây ra các cuộc xung đột vũ trang ở nhiều nơi. Hạ tuần tháng 11-1946, tướng Valuy ra lệnh cho quân đội của chúng kiểm soát quan thuế, chiếm thành phố cảng duy nhất trên miền Bắc, nổ súng đánh chiếm Lạng Sơn, một cửa ngõ đường bộ quan trọng ở nước ta. Đầu tháng 12-1946, Pháp tăng quân trái phép ở Đà Nẵng và Hải Dương, tăng viện quân vào Hải Phòng, đánh chiếm Đồ Sơn, Đinh Lập, gây nhiều vụ xung đột ở Hà Nội…

Trước tình hình đó, quân và dân ta khẩn trương chuẩn bị song vẫn bình tĩnh nín nhịn. Hồ Chủ tịch vẫn kiên trì tìm cách duy trì thêm thời gian hoà hoãn để chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng chiên đấu. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm gì thì chúng tôi sẽ làm…Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm, cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chiu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do”[13].

Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên toàn quốc là điều thực dân Pháp đã quyết châm ngòi vào ngày 20-12 như chúng đã nêu trong các tối hậu thư gửi cho Chính phủ Việt Nam trong các ngày 18, 19 tháng 12-1946. Sẽ là một tội lỗi với lịch sử nếu chần chừ do dự để quân dân Hà Nội và các thành phố, thị xã khác…trở thành nạn nhân của các “kịch bản” đảo chính của quân đội Pháp như chúng đã diễn ra ở Hải Phòng.

Dân tộc Việt Nam quyết giữ vững lời thề độc lập, thà chết chứ không chịu mất độc lập, tự do. Cả nước đã nhất tề đứng lên chiến đấu theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin kháng chiến nhất định thắng lợi trên cơ sở quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do và lực lượng căn bản được xây dựng trong thời gian gần một năm tạm hoà bình.

Trải qua một cuộc chiến đấu lâu dài, đến tháng 7-1954, Chính phủ nước Pháp mới chịu ký Hiệp định công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam tại cuộc hoà đàm ở Giơnevơ năm 1954.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến 1945-1954 là thắng lợi của ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin và lý luận giải phóng và phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh./.

PGs.Ts.NGND Lê Mậu Hãn

Đại học Quốc gia Hà Nội

(Bài viết được in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hải Phòng, Hải Phòng với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nxb Hải Phòng, 2007).

Ghi chú:

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, HN 1995, tr 161.

[2] [3] Báo Cứu quốc, số 36, ngày 5-9-1945.

[4] Báo Cứu quốc, số 128, ngày 28-12-1945.

[5] Xem Philippe, Pari – Sài Gòn – Hà Nội, Nb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr 209.

[6] Jean Sainteny, Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Lê Viên dịch, Nxb Công an nhân dân, HN 2003, tr 225, 226.

[7] [8] [9] [10] [11] [12] [13]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr 240, 246, 267, 363, 369, 416, 473.