Điện Biên Phủ - Thắng lợi của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc

Cập nhật: 06/05/2021 23:46

Cách đây 67 năm (07/5/1954 ), với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ “ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, buộc chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Geneva (tháng 7/1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương trong đó có Việt Nam. Đây là thắng lợi lịch sử to lớn của dân tộc Việt Nam, minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.


Xe đạp thồ - “Vũ khí đặc biệt” góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ

Tháng 5/1953, chính phủ Pháp cử tướng Nava - người được đánh giá là “một nhà chiến lược văn võ kiêm toàn” sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương với hy vọng sớm giành thắng lợi quân sự quyết định, tìm “lối thoát danh dự” dứt điểm cuộc chiến tranh. Sau một thời gian tìm hiểu tình hình chiến trường, tháng 7/1953, tướng Nava đề ra kế hoạch quân sự mới ở Đông Dương (còn gọi Kế hoạch Nava), gồm hai bước. Bước 1 (Thu Đông năm 1953 và Xuân năm 1954): Phòng ngự chiến lược ở chiến trường miền Bắc, bình định miền Nam, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V. Bước 2 (từ Thu Đông năm 1954): Tiến công chiến lược miền Bắc, từ thắng lợi quyết định về quân sự, buộc ta đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp.

Kế hoạch quân sự Nava là sự nỗ lực tối đa của quân Pháp ở Việt Nam. Chính phủ Pháp hy vọng từ đó sẽ giành thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh vốn quá lâu dài, đang bị dư luận ở Pháp và quốc tế lên án là cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Mỹ đã kiểm tra, ủng hộ và viện trợ cho kế hoạch Nava.

Thực hiện kế hoạch quân sự mới đề ra, thực dân Pháp mở nhiều cuộc hành quân đánh phá, càn quét bình định, ra sức bắt lính; đồng thời đưa thêm nhiều đơn vị quân viễn chinh vào Đông Dương. Chỉ sau một thời gian ngắn, địch đã củng cố, xây dựng được 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược, trong đó tập trung 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ.

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn, đề ra chủ trương chiến lược cho hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 - 1954, mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, tranh thủ tiêu diệt địch khi chúng đánh vào vùng hậu phương của ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, đồng thời chuẩn bị cho bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ. Phương châm tác chiến là “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”; tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, đánh tiêu diệt, chọn nơi địch yếu và sơ hở để tiến công, giữ vững thế chủ động chiến lược, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, bắt địch phải chiến đấu theo cách đánh của ta.

Sau khi đập tan cuộc hành quân Hải Âu (đánh ra Ninh Bình) của địch, ngày 15/11/1953, lực lượng bộ đội chủ lực của ta theo kế hoạch tác chiến tiến lên Tây Bắc. Nava vội đưa quân lên Điện Biên Phủ để bảo vệ Lai Châu và Thượng Lào. Dù nằm ngoài kế hoạch dự kiến ban đầu, nhưng Điện Biên Phủ được địch nhanh chóng xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Như vậy, Điện Biên Phủ trở thành tâm điểm của kế hoạch Nava và được coi là “pháo đài bất khả xâm phạm”, “con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc” mà Nava tự tin rằng sẽ “nghiền nát chủ lực Việt Minh” ở thung lũng Mường Thanh.

Trước tình hình trên, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch của Tổng quân ủy trung ương và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, chọn Điện Biên Phủ làm trận quyết chiến chiến lược. Như vậy, cả ta và địch đều chọn Điện Biên Phủ làm trận đánh then chốt để kết thúc chiến tranh.

Vấn đề khó khăn nhất trong thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ được Đảng ta xác định là vấn đề hậu cần, bởi đây là chiến dịch lớn, diễn ra trong thời gian dài, cần lượng lớn lương thực, vũ khí đạn dược, chiến trường ở xa hậu phương 500-700km, điều kiện đường sá, thời tiết khó khăn, phương tiện vận tải thiếu thốn, kẻ địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Do vậy, để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch công tác chuẩn bị phải hết sức kỹ lưỡng và đòi hỏi sức mạnh của toàn dân tộc. Đứng trước những khó khăn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm: Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện cho Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này. Đảng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong trận quyết chiến chiến lược.

Theo tính toán lượng gạo cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ khoảng 16.000 tấn. Trong khi đó nếu vận chuyển bằng sức người gánh bộ từ Thanh Hóa hoặc từ Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái lên cứ một kilôgam gạo đến đích phải có 24kg ăn dọc đường, do đó để có được số gạo trên phải huy động một lực lượng khổng lồ. Để giải bài toán hóc búa này đòi hỏi chúng ta phải vận động đồng bào các dân tộc Tây Bắc đẩy mạnh sản xuất ra sức tiết kiệm đảm bảo lương thực tại chỗ, đồng thời phát huy tối đa các lực lượng, phương tiện đảm bảo lương thực cho chiến dịch.

Với khẩu hiệu “tất cả cho mặt trận”, “tất cả để chiến thắng”, hàng chục vạn dân công đã tình nguyện tham gia phục vụ chiến dịch với tinh thần hăng hái, phấn khởi và một quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bằng tinh thần đoàn kết ấy, “đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV đã đóng góp hơn  260.000 dân công, 20091 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ. Về bảo đảm vật chất, đồng bào đã đóng góp cho chiến dịch 25056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng chục nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm đã chuyển được ra mặt trận là hơn 2 vạn tấn, trong đó có 14950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62.7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô” (1). Dù địch ra sức bắn phá các tuyến cung cấp của ta, song với quyết tâm đem toàn lực chi viện, bảo đảm tiếp tế cho mặt trận Điện Biên Phủ, nhân dân đã đem một tinh thần anh dũng và chịu đựng gian khổ rất cao ra phục vụ chiến dịch. Hình ảnh những chiếc xe thồ vận chuyển lương thực, đạn dược trên những tuyến đường dốc của lực lượng dân công thực sự là một kỳ công chưa từng có trong lịch sử. Hơn 2000 xe đạp thồ với sức thồ hàng tạ, 500 ngựa thồ và hàng chục ngàn xe trâu, xe bò phục vụ cho chiến dịch luôn được bảo đảm và tăng cường. Cùng với những chiếc xe đạp thồ, anh chị em dân công hàng tháng trời đã gánh gạo, đạn với mức gánh từ 25-30kg hướng ra mặt trận.

Mỗi người dân Việt Nam yêu nước đều đã đáp Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần hăng hái, phấn khởi và một sự cố gắng vượt bậc. Hình ảnh đôi bồ, những chiếc xe đạp thồ của lực lượng dân công đã thể hiện sự đồng lòng dốc sức của cả một dân tộc cho chiến trường với một quyết tâm giành thắng lợi. Với sức mạnh và quyết tâm đó của cả dân tộc, đến ngày 7-5, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - một “pháo đài khổng lồ không thể công phá” của thực dân Pháp đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Tướng Đờ Ca-xtơ-ri và toàn bộ Bộ tham mưu của tập đoàn cứ điểm đã đầu hàng quân ta vô điều kiện. Lá cờ quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã tung bay trên nóc hầm chỉ huy.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định. Sức mạnh đoàn kết ấy dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, do đó đã phát huy cao độ lòng yêu nước của đồng bào, cổ vũ, động viên toàn dân tộc đứng lên kháng chiến, tạo nên chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Nhà báo Pháp Giuyn Roi đã có một nhận xét đầy hình tượng: Không phải viện trợ bên ngoài đã đánh bại tướng Na-va, mà chính là những chiếc xe đạp Pơ-giô thồ 200, 300 ký hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ni-lông. Cái đã đánh bại tướng Na-va, không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương. Một dân tộc kiên cường, bất khuất đã “nếm mật nằm gai” trong “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt. Máu trộn bùn non” cùng nhau viết nên trang sử chói lọi “9 năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn in đậm dấu ấn trong tâm trí của các thế hệ người dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt, bài học về phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay./.

Ghi chú: (1) Chiến thắng Điện Biên Phủ, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc - Bài học và giá trị lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.3.

Nguyễn Hằng