Tháng 6/1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, mở thông biên giới với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Để đáp ứng yêu cầu to lớn và phục vụ kháng chiến, không những phải huy động hàng chục nghìn dân công mà còn phải tổ chức thêm một lực lượng mới, trẻ, khoẻ. Lực lựơng này bao gồm những thanh niên tình nguyện, đội quân chủ lực trong dân công thực hiện nhiệm vụ mở đường, bảo vệ cầu, vận chuyển lương thực, đạn dược…
Vì mục tiêu “tất cả cho chiến dịch được toàn thắng”, Hồ Chủ tịch đã trực tiếp chỉ thị cho Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành lập Đội Thanh niên xung phong để phục vụ chiến trường.
Ngày 15/7/1950, Đội Thanh niên xung phong được thành lập và chiến dịch Biên giới là chiến dịch mở đầu cho trang sử vẻ vang, hào hùng của Đội. Sau chiến dịch Lê Hồng Phong II, biên giới Việt Trung đã được khai thông. Đường số 3 không những trở thành con đường chiến lược của ta trên chiến trường Bắc Đông Dương mà còn là con đường giao thông huyết mạch của các chiến trường trên toàn quốc.
Đường số 3 chạy từ Hà Nội lên Thái Nguyên qua Bắc Kạn, vượt đèo Giàng, đèo Gió lên Cao Bằng gặp đường số 4 (Cao Bằng - Lạng Sơn - Móng Cái). Không những thế, từ quốc lộ 3 trên địa phận Thái Nguyên - Bắc Kạn, còn nhiều tuyến đường giao thông khác nối liền với các tỉnh bạn. Thấy rõ tầm quan trọng của đường số 3 đối với công cuộc kháng chiến của ta, thực dân Pháp quyết tâm tập trung không quân đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược huyết mạch này.
Trước sự điên cuồng bắn phá của thực dân Pháp, các liên phân đội Thanh niên xung phong được điều động công tác dọc đường số 3 suốt ngày đêm. Đơn vị Thanh niên xung phong 312 được giao nhiệm vụ bảo vệ đoạn đường Nà Cù - Phủ Thông mà trọng điểm là cầu Nà Cù. Chiếc cầu cũ đã bị ta đánh sập từ những ngày đầu để tiêu thổ kháng chiến. Một chiếc cầu mới được bắc qua suối dữ để ô tô qua lại. Toàn phân đội Thanh niên xung phong ngày đêm vật lộn với mưa lũ, dũng cảm chiến đấu với máy bay địch, quyết tâm bảo vệ cầu đường giữ vững con đường huyết mạch, đảm bảo giao thông cho chiến khu Việt Bắc được thông suốt.
Ngày 19/3/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi kinh lý vùng biên giới để kiểm tra việc sửa chữa cầu, đường từ Thái Nguyên đi Cao Bằng, thăm lực lượng Thanh niên xung phong mở đường, một số đơn vị vận tải và kho tàng dọc tuyến đường.
Ngày 28/3/1951, tại cánh rừng Nà Tu (xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), toàn thể cán bộ, đội viên phân đội Thanh niên xung phong 312 đã đón nhận niềm vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Sau khi ân cần thăm hỏi, Bác nhắc nhở toàn thể cán bộ và đội viên Thanh niên xung phong phải có kế hoạch làm việc, đồng thời tổ chức tốt việc thi đua để mau chóng hoàn thành nhiệm vụ. Bác đã tặng toàn thể cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong phân đội 312 bốn câu thơ:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”.
Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm phân đội Thanh niên xung phong 312 ngày 28/3/1951 tại Nà Tu là nguồn động viên to lớn đối với các chiến sĩ trẻ trên mặt trận đảm bảo giao thông. Bốn câu thơ Bác tặng toàn thể cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong đã được đồng chí Dương Thiết Sơn - Bí thư Tỉnh uỷ - Người đưa Bác đi thăm các liên đội Thanh niên xung phong chuyển cho Trung ương Đoàn. Từ đó đến nay lời căn dặn của Bác đã trở thành niềm tin và cơ sở hành động cho thể hệ trẻ Việt Nam củng cố lòng tin làm nên những chiến thắng.
Bốn câu thơ nổi tiếng là phương châm hành động của thế hệ trẻ Việt Nam. Lời căn dặn của Bác như chiếc chìa khoá vàng trang bị cho tuổi trẻ một sức mạnh thần kỳ để vượt qua mọi khó khăn thử thách.
Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã kịp thời lấy bài thơ của Bác làm nội dung giáo dục cho Thanh niên xung phong trong cả nước. Lời thơ của Bác đã đựơc nhạc sĩ Hoàng Hòa phổ nhạc. Tháng 7/1954, tại Hội nghị cán bộ Đoàn toàn quốc, bài ca Thanh niên làm theo lời Bác lần đầu tiên được giới thiệu và ngay lập tức đã trở thành ca khúc cho thế hệ Thanh niên Việt Nam đón nhận làm hành trang vào đời. Bài hát không những đã theo chân đoàn quân về tiếp quản Thủ đô mà còn lan truyền qua nhiều thế hệ thanh niên trong toàn quốc. Âm vang của lời căn dặn cách đây 67 năm chính là sự quan tâm, là tình cảm thương yêu chăm sóc của Bác Hå dành cho thế hệ trẻ - đoàn viên Thanh niên Việt Nam.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện lời dạy của Bác, thế hệ trẻ Việt Nam luôn phát huy sức trẻ, xứng đáng là lực lượng xung kích đi đầu trong quá trình hội nhập và phát triển quê hương, đất nước.
Đã đi qua gần 7 thập kỷ nhưng bốn câu thơ của Bác tặng phân đội Thanh niên xung phong 312 vẫn mãi âm vang, vẫn luôn giữ nguyên giá trị, vẫn mang tính thời đại sâu sắc giáo dục các thế hệ Thanh niên Việt Nam của ngày nay và mãi mãi sau./.
ThS. Trần Thị Bích Hằng
Bí thư Đảng ủy - Hiệu trưởng Trường