Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam

Cập nhật: 20/12/2024 23:55

ThS. Phạm Thị Dung
Khoa Xây dựng Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang cách mạng. Người đã trực tiếp sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Quân đội ta luôn tuyệt đối: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[1].

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập Quân đội nhân dân Việt Nam

Với tầm nhìn chiến lược và nhạy bén, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng, cần phải tổ chức lực lượng vũ trang. Ngay từ những năm 1925 đến năm 1927, khi hoạt động tại Quảng Châu - Trung Quốc, Người đã mở các lớp đào tạo cán bộ để “ươm mầm” những “hạt giống đỏ” cho cách mạng Việt Nam. Các học viên được học những kiến thức cơ bản về quân sự như: quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội, nguyên tắc tổ chức quân đội theo kiểu Hồng quân Liên Xô và kinh nghiệm tác chiến phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Kết thúc khóa học, Người trực tiếp lựa chọn các học viên tiêu biểu gửi đi học ở Trường quân sự Hoàng Phố - Trung Quốc. 

Tháng 10-1941, Người giao nhiệm vụ cho các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pắc Bó để tiến tới thành lập đội vũ trang cách mạng. Người trực tiếp tham gia huấn luyện cho các đội viên. Để có tài liệu giảng dạy, Người đã biên soạn các tài liệu quân sự quan trọng như “Mười điều kỷ luật”, “Cách đánh du kích”, “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”, “Kinh nghiệm du kích Nga”…

Đầu tháng 12-1944, tại Pác Bó (Cao Bằng), Bác triệu tập đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh đến để nghe báo cáo về tình hình phong trào cách mạng của ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích Liên tỉnh ủy. Đồng thời, Bác chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Nửa tháng sau, Bác gửi một bức thư cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, trong đó xác định: phương thức hoạt động của lực lượng vũ trang là “chính trị trọng hơn quân sự,” “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”; nguyên tắc tổ chức lực lượng là “sẽ chọn những đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất trong hàng ngũ du kích Cao - Bắc - Lạng và tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”; phương châm tác chiến là “vận dụng lối đánh du kích mau lẹ, linh hoạt, bí mật, bất ngờ”.

Thực hiện Chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) ra đời ở khu rừng Trần Hưng Đạo (thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).  Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân có 34 đội viên được biên chế thành một trung đội có 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt trọn niềm tin khi trao sứ mệnh chỉ huy cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Những ngày đầu mới thành lập, tuy lực lượng ít, vũ khí trang bị thô sơ, nhưng Đội đã đánh thắng liên tiếp hai trận ở Phai Khắt (ngày 25/12/1944) và Nà Ngần (ngày 26/12/1944), mở đầu cho trang sử truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là một tất yếu lịch sử trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta; là bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng lúc đó. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử đất nước có một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; đó là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của dân tộc ta; là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cùng sự kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm đánh giặc giữ nước qua mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc giáo dục, rèn luyện, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến xây dựng đội quân chủ lực, từ tổ chức đến phương châm hành động, quan hệ giữa đội quân chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương.

Về mặt tổ chức, Người cho rằng: phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo và coi trọng xây dựng con người với phương châm “Người trước, súng sau”. Trong xây dựng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Người yêu cầu: phải có đầy đủ các thành phần dân tộc, vùng miền, người địa phương nào cũng có để nhằm phục vụ cho hoạt động sau này của Đội được thuận lợi. Quá trình thực hiện nhiệm vụ: “Phải dựa chắc vào dân thì không kẻ địch nào tiêu diệt được ta”[2]. Xây dựng đội quân chủ lực trước hết là về phẩm chất chính trị phải vững chắc, tư tưởng cách mạng đúng đắn, để có thể đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, làm cho quần chúng giác ngộ, tin tưởng và đi theo cách mạng. Theo Người, quân sự phải phục tùng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[3].

Về nghệ thuật quân sự, phải huy động“tập trung lực lượng” coi đây là nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật chiến tranh. Nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; sử dụng đa dạng các hình thức tác chiến: kết hợp đánh du kích với đánh tập trung; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn. Về phương thức tuyển chọn, huấn luyện, xây dựng lực lượng, Người chỉ rõ: “Sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”[4]. Thực hiện tư tưởng kháng chiến toàn dân, Người đã chỉ rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện”[5]. Kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc, truyền thống đoàn kết chiến đấu trong dựng nước và giữ nước; đồng thời vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử… Về phương thức hoạt động của lực lượng vũ trang, Người xác định: Phải kết hợp quân sự với chính trị; về chiến thuật phải vận dụng lối đánh du kích, về nguyên tắc hành động của quân đội, phải đánh thắng trận đầu: “Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”[6].

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải không ngừng xây dựng, phát triển lực lượng, làm cho đội quân nhỏ bé ban đầu tiến lên nhanh chóng, trở thành một đội quân hùng mạnh. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân tố quyết định đến sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[7]. Do vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Quân đội ta luôn lấy việc xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh chiến đấu, thường xuyên tăng cường hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị.

Về xây dựng bản chất của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Người luôn căn dặn đoàn kết “quân với dân như cá với nước”. Đó là bản chất của quân đội cách mạng, là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Là quân đội của nhân dân, “Bộ đội Cụ Hồ” phải sẵn sàng giúp đỡ nhân dân, nhưng tuyệt đối “không động đến cái kim, sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”[8]. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người làm công tác dân vận giỏi, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu;” từng bước “đánh cho Mỹ cút,” “đánh cho ngụy nhào” mà đỉnh cao nhất là cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đến đây, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch quân thù xâm lược, thu non sông đất nước về một mối.

Tiếp tục phụng sự Tổ quốc và nhân dân từ năm 1975 đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng toàn dân liên tục đánh bại các thế lực xâm lược trên các tuyến biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện đường lối đổi mới, ổn định, phát triển đất nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh của Tổ quốc.

Có thể khẳng định, trải qua 80 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được sự nuôi dưỡng và đùm bọc của nhân dân, quân đội ta vừa chiến đấu, vừa xây dựng và trưởng thành, đã làm nên những chiến công hiển hách, mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời về một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay, hơn bao giờ hết, quân đội nhân dân càng phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc đổi mới, càng phải vận dụng sáng tạo hơn nữa những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển quân đội, để luôn xứng đáng là “lực lượng trụ cột” của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.435.

[2] Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.130-133

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.217.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.539

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.539

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.539

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr.435

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.16