Việc đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với mỗi tổ chức đảng và đảng viên là nội dung quan trọng trong công tác Đảng, làm cơ sở để thực hiện các nội dung về công tác cán bộ, đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Để việc đánh giá, xếp loại chất lượng đảm bảo thực chất, trên cơ sở Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, ngày 24/9/2018, Ban Tổ chức Trung ương Đảng đã ban hành Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thay thế Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 25/9/2014 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Trong phạm vi bài viết, xin đề cập và tìm hiểu về những điểm mới trong nội dung đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên trong Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW.
Thứ nhất, về đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ)
Đối tượng đánh giá: đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở, không đánh giá, xếp loại tổ chức đảng mới thành lập chưa đủ 6 tháng.
Về nội dung đánh giá được mở rộng hơn so với quy định trước. Ngoài 5 nội dung về: công tác chính trị tư tưởng; công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng đảng bộ, chi bộ; lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm được lượng hóa cụ thể, Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW đã bổ sung tiêu chí thứ 6 về “kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra”.
Quy trình đánh giá cũng được đổi mới, thay vì dùng phương pháp tổ chức đảng tự chấm điểm và cấp trên thẩm định, lần này phương pháp đánh giá, phân loại được thực hiện đa chiều, có nhiều chủ thể cùng tham gia đánh giá. Ngoài việc tự đánh giá của bản thân tổ chức đảng, cấp ủy, tập thể lãnh đạo quản lý còn có đánh giá của cấp trên; đánh giá của tổ chức đảng, cấp ủy, tập thể lãnh đạo quản lý cùng cấp; đánh giá của cấp dưới. Cụ thể:
Bước 1: đảng ủy cơ sở, chi bộ cơ sở tự đánh giá, biểu quyết mức xếp loại chất lượng (với đảng bộ cơ sở có chi bộ trực thuộc phải lấy ý kiến các chi bộ trực thuộc về mức xếp loại chất lượng đảng bộ trước khi đảng ủy biểu quyết).
Bước 2: các cơ quan cấp quận, huyện ủy và tương đương nhận xét đánh giá, đề xuất xếp loại chất lượng TCCSĐ theo chức năng, nhiệm vụ, tiêu chí do ban thường vụ cấp ủy cấp huyện và tương đương quy định.
Bước 3: Ban tổ chức cấp ủy cấp quận, huyện và tương đương tổng hợp kết quả đánh giá TCCSĐ và gửi văn bản lấy ý kiến của các TCCSĐ trong đảng bộ.
Bước 4: Ban thường vụ cấp ủy cấp huyện biểu quyết và quyết định xếp loại chất lượng các TCCSĐ trực thuộc.
Việc xếp loại chất lượng TCCSĐ, Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW đã nêu ra khung tiêu chuẩn các mức chất lượng theo 04 mức: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (thay cho trong sạch, vững mạnh trước đây); hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ và không hoàn thành nhiệm vụ (thay cho yếu kém trước đây).
Việc xây dựng bộ khung tiêu chí đánh giá, cũng như bộ khung tiêu chuẩn xếp loại chất lượng các tập thể, cá nhân với nhiều điểm mới, theo hướng yêu cầu cao hơn, góp phần quan trọng trong việc khắc phục những hạn chế trước đây như: việc đánh giá chủ quan, theo cảm tính… Cụ thể:
Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 25-9-2014 để đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh”, chi bộ phải có 100% số đảng viên đạt mức “hoàn thành nhiệm vụ” trở lên; đảng bộ có 100% số tổ chức đảng trực thuộc đạt mức “hoàn thành nhiệm vụ” trở lên. Nhưng đến Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW yêu cầu để xếp loại “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” là chi bộ có 100% số đảng viên đạt mức “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên; đảng bộ phải có 100% số tổ chức đảng trực thuộc xếp loại “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên. Đồng thời, quy định rõ số lượng tổ chức cơ sở đảng được xếp loại “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% số tổ chức đảng cùng cấp trực thuộc được xếp loại “hoàn thành tốt nhiệm vụ” của từng đảng bộ.
Với đảng bộ, chi bộ xếp loại “hoàn thành tốt nhiệm vụ”, yêu cầu phải có 100% số tổ chức đảng trực thuộc, 100% số đảng viên được xếp loại “hoàn thành nhiệm vụ” trở lên.
Theo quy định cũ, đảng bộ cơ sở có trên 1/3 số chi bộ trực thuộc trở lên xếp loại yếu kém; chi bộ có trên 1/2 số đảng viên xếp loại “không hoàn thành nhiệm vụ” thì có thể xếp loại yếu kém. Nay theo quy định mới, chỉ cần Ban Thường vụ cấp ủy bị xử lý kỷ luật hoặc có trên 20% số tập thể cấp ủy “không hoàn thành nhiệm vụ” (chi ủy bị xử lý kỷ luật hoặc chi bộ có trên 20% số đảng viên xếp loại “không hoàn thành nhiệm vụ”) thì xếp loại “không hoàn thành nhiệm vụ”.
Thứ hai, về đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên
Đối tượng: đảng viên trong toàn Đảng (trừ đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng); trường hợp miễn công tác và sinh hoạt nhưng có dấu hiệu vi phạm tư cách đảng viên thì chi bộ phải kiểm điểm; đảng viên mới kết nạp chưa đủ 06 tháng vẫn phải kiểm điểm tính từ ngày kết nạp vào Đảng, nhưng không xếp loại chất lượng.
Nơi đánh giá: đảng viên kiểm điểm ở chi bộ nơi sinh hoạt. Với chi bộ có từ 30 đảng viên trở lên, có tổ đảng thì có thể kiểm điểm ở tổ đảng, sau đó tổ đảng báo cáo kết quả với chi bộ; trường hợp đảng viên được gợi ý kiểm điểm phải kiểm điểm trước chi bộ.
Nội dung đánh giá đảng viên: đảng viên làm bản kiểm điểm theo 5 nội dung sau: về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm; kết quả khắc phục những hạn chế, khuyết điểm đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc chỉ ra ở kỳ kiểm điểm trước và những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có). Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức khi kiểm điểm cần làm rõ về khối lượng, chất lượng, tiến độ, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao; tinh thần đổi mới, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm; ý thức, thái độ phục vụ nhân dân. Nội dung này cho thấy việc kiểm điểm đã gắn chặt với kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thể hiện đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ dựa trên kết quả công việc, sản phẩm công việc cụ thể theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về công tác cán bộ.
Về xếp loại chất lượng đảng viên: đảng viên được xếp loại chất lượng theo một trong bốn mức sau: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ; không hoàn thành nhiệm vụ.
Đảng viên là công chức, viên chức xếp loại “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” phải được xếp loại công chức, viên chức “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Tỷ lệ đảng viên “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” được nêu rõ là không quá 20% số đảng viên được xếp loại “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong TCCSĐ (thay vì 15% như quy định trước). Đảng viên “không hoàn thành nhiệm vụ” là đảng viên không đạt “hoàn thành nhiệm vụ” hoặc có một trong các trường hợp sau: cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; hoàn thành dưới 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao; đảng viên là công chức, viên chức xếp loại “không hoàn thành nhiệm vụ”; đảng viên bị thi hành kỷ luật trong năm (một vi phạm bị xử lý kỷ luật chỉ tính một lần khi xếp loại).
Các chủ thể liên quan đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên là công chức, viên chức gồm có: chi ủy (chi bộ) nơi đảng viên sinh hoạt; tập thể lãnh đạo đoàn thể mà đảng viên là thành viên lãnh đạo; người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng công chức, viên chức; chi ủy, đảng ủy cơ sở nơi đảng viên cư trú và đảng viên trong chi bộ. Đối với đảng viên không là công chức, viên chức thì chủ thể đánh giá chỉ còn 3 đối tượng là: chi ủy (chi bộ) nơi đảng viên sinh hoạt; tập thể lãnh đạo đoàn thể mà đảng viên là thành viên lãnh đạo; đảng viên trong chi bộ.
Quy trình kiểm điểm, đánh giá xếp loại chất lượng đảng viên như sau:
Bước 1: mỗi đảng viên làm một bản kiểm điểm và tự nhận mức chất lượng theo mẫu để báo cáo cùng bản kiểm điểm trong cuộc họp kiểm điểm, xếp loại chất lượng đảng viên;
Bước 2: chi ủy nơi đảng viên sinh hoạt; tập thể lãnh đạo đoàn thể mà đảng viên là thành viên lãnh đạo đánh giá, xếp loại từng đảng viên. Cấp ủy cơ sở nơi đảng viên công tác làm văn bản gửi cấp ủy cơ sở nơi đảng viên cư trú nhận xét đảng viên (trước đây chỉ quy định nếu cần). Người đứng đầu cơ quan, đơn vị đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức. Tổ chức họp chi bộ kiểm điểm từng đảng viên, đảng viên trong chi bộ bỏ phiếu kín về mức xếp loại chất lượng từng đảng viên.
Bước 3: cấp ủy cơ sở bỏ phiếu quyết định xếp loại chất lượng đảng viên. Khi kiểm điểm, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì kiến nghị kiểm tra dấu hiệu vi phạm; nếu phát hiện cá nhân có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì có thể lấy phiếu đánh giá để có biện pháp xử lý.
Trên đây là một số điểm mới trong Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW khi đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm. Với những yêu cầu cụ thể được nêu trong Hướng dẫn mang tính toàn diện, hạn chế sự né tránh, e dè, hay ngại va chạm trong đánh giá, xếp loại, qua đó góp phần nâng cao sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng, đảng viên.
ThS. Vũ Thị Lan Anh
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng