Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam

Cập nhật: 01/08/2017 23:25

Công đoàn Việt Nam ra đời đáp ứng đòi hỏi của cuộc đấu tranh Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX. GCCN Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) và trưởng thành nhanh chóng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929). Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, GCCN và nhân dân lao động nước ta bị hai tầng áp bức, bóc lột nặng nề. Vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, tuy còn non trẻ GCCN Việt Nam đã tiến hành hàng loạt các cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột đó. Tuy nhiên, những cuộc đấu tranh của công nhân ở các hầm mỏ, đồn điền, xưởng thợ, lúc đầu còn lẻ tẻ, thiếu sự liên kết trong phạm vi lớn, thiếu sự tổ chức tập trung. Cho nên, các cuộc đấu tranh của họ không mang lại kết quả gì nhiều ngoài một chút quyền lợi kinh tế trước mắt, có nhiều cuộc đấu tranh còn bị đàn áp dã man. Từ đó, công nhân thấy rằng không tổ chức nhau lại tạo ra sức mạnh của sự đoàn kết thì khó có thể thành công, và họ đã tổ chức ra những hội nghề, nghiệp đoàn, công hội. Chẳng hạn, năm 1906, ở Bắc Kỳ xuất hiện "Hội ái hữu viên chức ngành lục lộ" sau đó là "Hội Trí tri", "Hội hợp thiện" và tiêu biểu nhất là Công hội đỏ Ba Son (Sài Gòn - Gia Định), thành lập năm 1920 do đồng chí Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đứng đầu. Sự ra đời của tổ chức Công hội đỏ Ba Son chứng tỏ phong trào công nhân đã bước đầu có tổ chức, chuẩn bị bước vào giai đoạn mới, giai đoạn tự giác của nó. Tuy nhiên Công hội đỏ Ba Son chỉ hoạt động trong phạm vi hẹp, đó là xưởng đóng tàu Ba Son, tồn tại không lâu (năm 1926 tự giải tán). Công hội đỏ Ba Son chưa có chính cương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích, nên chỉ được coi là tổ chức Công đoàn sơ khai ở Việt Nam.

Người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập Công đoàn Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau nhiều năm bôn ba nước ngoài, Người đã tiếp cận được với chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với thực tiễn hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Người đã thấy được sự cần thiết phải thành lập tổ chức Công đoàn. Trong tác phẩm nổi tiếng "Bản án chế độ thực dân Pháp", Người đã chỉ rõ "... Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền rộng lớn để thành lập các tổ chức công đoàn ở các nước thuộc địa và phát triển các Công đoàn hiện có dưới hình thức phôi thai".

Trong tác phẩm "Đường Cách mệnh" viết năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ hơn về công hội, trình bày một cách mộc mạc, dễ hiểu về tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức công hội mà những tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị: "Tổ chức công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới". Người khẳng định công hội là cơ quan của công nhân để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa.

Những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thành lập tổ chức Công đoàn cách mạng được các hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội - một tổ chức tiền thân của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập vào tháng 6 năm 1925, truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân, và đã có ảnh hưởng lớn trong phong trào công nhân, nhiều tổ chức công hội bí mật được thành lập.

Từ năm 1928 đến 1929, phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng mang tính chất toàn quốc, hàng loạt các cuộc bãi công lớn nổ ra. Năm 1928 có cuộc bãi công của công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, diêm, cưa Bến Thủy, nước đá Sài Gòn, sát gạo Chợ Lớn, cao su Lộc Ninh. Năm 1929 có cuộc đấu tranh của công nhân sửa chữa ô tô AVIA (Hà Nội), sợi Hải Phòng, than Hòn Gai, xe lửa Tràng Thi. Các phong trào trên đã có sự phối hợp giữa nhiều xí nghiệp, nhiều địa phương với nhau, sôi nổi, liên tục và lan rộng khắp trong cả nước, và sử dụng nhiều hình thức đấu tranh. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân đòi hỏi phải thành lập chính Đảng của giai cấp vô sản có khả năng lãnh đạo phong trào công nhân. Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng (Bắc Kỳ) được thành lập; tháng 10 năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng (Nam Kỳ) thành lập; tháng 1 năm 1930, Đông Dương Cộng sản liên đoàn (Trung Kỳ) được thành lập. Ngay sau khi thành lập, trước sự phát triển của phong trào công nhân và nhu cầu tập hợp lực lượng, Đông Dương Cộng sản Đảng đã triệu tập Đại hội thành lập Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28 tháng 7 năm 1929, tại số nhà 15 Hàng Nón - Hà Nội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 6 người do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Ủy viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng, phụ trách công tác vận động công nhân của Đảng đứng đầu. Trong Đại hội, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh đã trình bày báo cáo, trong đó nhấn mạnh đặc điểm, tình hình phong trào công nhân nước ta và đề ra những nhiệm vụ thiết yếu của GCCN, công hội trong thời gian sắp tới.

Đại hội thông qua Chính cương điều lệ và quyết định xuất bản tờ báo Lao động và tạp chí "Công hội đỏ" vào ngày 14 tháng 8 năm 1929 làm cơ quan ngôn luận và truyền bá lý luận của Tổng công hội đỏ miền Bắc Việt Nam.

Sự ra đời của Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ là kết quả tất yếu của sự phát triển của phong trào công nhân với sự truyền bá lý luận cách mạng của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và các đảng viên cộng sản vào phong trào công nhân nước ta. Sự ra đời của tổ chức này là một mốc son chói lọi. Từ đây, GCCN Việt Nam có tổ chức đại diện cho quyền lợi của mình, Công đoàn Việt Nam đã thực sự bước lên vũ đài lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.

Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ đã trở thành tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam với Ngày thành lập là 28/7/1929.

Từ khi ra đời đến nay, để phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ lịch sử, Công đoàn Việt Nam đã qua nhiều tên gọi khác nhau: Tổng công hội đỏ Bắc kỳ, Nghiệp đoàn ái hữu, Hội công nhân phản đế, Hội công nhân cứu quốc, Tổng Công đoàn Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Nhưng bản chất cách mạng và mục tiêu cơ bản, lâu dài của Công đoàn Việt Nam là không thay đổi.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đó tiếp thu, vận dụng sáng tạo các luận điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Công đoàn vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xác định đối tượng, xây dựng tổ chức, chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động của công đoàn và đào tạo cán bộ công đoàn.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Công đoàn Việt Nam là: Công đoàn phải thực sự trở thành trường học quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa của giai cấp công nhân. Do đó, Công đoàn phải vận động quần chúng tham gia ngày càng rộng rãi vào toàn bộ sự nghiệp xây dựng nền kinh tế quốc dân, vào các kế hoạch kinh tế, sản xuất.

Người thường nhấn mạnh: Nhiệm vụ của công nhân và Công đoàn hiện nay là phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn thế Công đoàn phải tổ chức, giáo dục, lãnh đạo công nhân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch của Đảng và Nhà nước đề ra.

Từ nhiệm vụ chung đó, Người chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể cho Công đoàn. Đó là:

Về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng: Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và là Đảng của giai cấp công nhân, “Công nhân không có sự lãnh đạo của Đảng thì không làm cách mạng thành công được, không thắng lợi được”. Do đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải được công nhân quán triệt và thực hiện, thông qua tổ chức Công đoàn. Công đoàn phải giáo dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng.

Về lế lối làm việc của Công đoàn, Người căn dặn các cấp Công đoàn cần đổi mới cách thức làm sao cho mọi hoạt động của Công đoàn đi vào chiều sâu và có hiệu quả thiết thực. Công đoàn phải bảo vệ quyền và lợi ớch hợp pháp chính đáng của người lao động, thường xuyên quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của người lao động. Hồ Chí Minh căn dặn Công đoàn phải bảo vệ cho công nhân, người lao động có quyền thực sự trong xí nghiệp, có quyền phê bình tất cả mọi việc và mọi người trong sản xuất và đời sống.

Người khuyên cán bộ công đoàn phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, hòa mình với công nhân thành một khối và phải gương mẫu. Cán bộ Công đoàn trước hết phải phấn đấu thành người xã hội chủ nghĩa. Bác nói: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa. Công nhân phải thành người xã hội chủ nghĩa.

Cán bộ công đoàn phải đoàn kết và tích cực để không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, Người nói: Kinh tế của ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng thêm đông. Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ công đoàn phải cố gắng học tập vươn lên để không ngừng tiến bộ. Có học tập mới hiểu biết được khoa học, có hiểu biết được khoa học mới tổ chức được phong trào.

Cán bộ công đoàn phải đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho công nhân trẻ về mọi mặt để trở thành những người có giác ngộ giai cấp, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao. Người căn dặn: Công nhân trẻ tốt lắm. Họ nghe và làm theo Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên. Nhưng chúng ta phải tôn trọng họ, tin vào họ, bồi dưỡng cho họ về phẩm chất, đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng và cách mạng của giai cấp công nhân. Bồi dưỡng văn hóa, khoa học kỹ thuật và kiến thức quản lý xí nghiệp cho họ, tạo điều kiện cho họ phát huy vai trò làm chủ tập thể... làm cho họ vừa hồng vừa chuyên, đó là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Ngày nay, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Công đoàn tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng cho công nhân lao động (CNLĐ), học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, Công đoàn phải giáo dục cho CNLĐ về văn hoá, văn học nghệ thuật, hoạt động thể dục thể thao để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa học cho CNLĐ.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước đã ban hành các chính sách, pháp luật có liên quan đến giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn; tiêu biểu là Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn. Trong đó xác định rõ vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị với tư cách là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất, đại diện cho công nhân, lao động. Đặc biệt, trong những năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức, hoạt động Công đoàn vẫn được Đảng tiếp tục quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả.

Từ những luận điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Công đoàn, Đảng ta đã xác định vị trí, vai trò, chức năng của Công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, với tinh thần kế thừa phát triển, sáng tạo và khoa học./.

Các tin đã đăng