Đặc trưng của hệ thống học tập suốt đời trong giai đoạn hiên nay

Cập nhật: 13/03/2025 15:10

ThS. Nguyễn Thị Huyền
Khoa Nhà nước và pháp luật


Học tập suốt đời là xu thế phát triển tất yếu ở hầu hết các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Để sống, làm việc và tồn tại trong thời đại ngày nay, học thường xuyên, học suốt đời là cần thiết và cấp bách. Theo định nghĩa của UNESCO: Học tập suốt đời bao gồm tất cả các hoạt động học tập thường xuyên suốt cuộc sống của một cá nhân từ khi chào đời đến lúc lìa đời, được thực hiện dưới hình thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Nói cách khác, học tập suốt đời là việc học dưới bất kể hình thức nào diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi người, từ lúc sinh ra cho đến khi về già.

Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hệ thống các mô hình giáo dục ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện và có xu hướng chuyển đổi từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục mới như: mô hình học suốt đời, mô hình giáo dục mở, mô hình giáo dục cá biệt hóa, mô hình công nghiệp giáo dục; mô hình không gian giáo dục chung; mô hình nhà trường điện tử;...Trong số đó, mô hình học suốt đời đang là xu thế chung trong bước chuyển về giáo dục ở nhiều nước trên thế giới. Ngày 2/3/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết về “Học tập suốt đời," trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc học tập thường xuyên đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và sự phồn vinh của đất nước. Trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trước bối cảnh khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, việc học tập suốt đời không chỉ giúp mỗi cá nhân nâng cao năng lực, mà còn tạo nền tảng để đất nước tận dụng tối đa thời cơ, đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Để xây dựng hệ thống học tập suốt đời, có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng trước hết, cần làm rõ những đặc trưng cơ bản của hệ thống này nhằm thấy được sự khác biệt với mô hình hệ thống học tập truyền thống, từ đó, làm cơ sở để xây dựng các phương pháp, cách thức học tập suốt đời đồng thời giúp nhà quản lý xây dựng các mô hình học tập suốt đời phù hợp với cộng đồng. Các đặc trưng cơ bản của mô hình học tập truyền thống được xác định gồm:

Thứ nhất, vai trò của nhà giáo dục trong hệ thống học tập suốt đời là người dẫn dắt tới các nguồn tri thức.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống, người thầy được coi là nguồn cung cấp tri thức duy nhất. Điều này xuất phát từ việc coi trọng sự ghi nhớ, học thuộc lòng đã được tiến hành trong thời gian dài ở Việt Nam. Hệ thống này hoàn toàn không phù hợp với việc cung cấp tri thức và năng lực cần thiết để người học thành công, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển của đất nước hiện nay. Trước yêu cầu đó, tại Nghị quyết số 29-NQ/TƯ Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ngày 04-11-2013 "về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", Đảng ta đã xác định quan điểm chỉ đạo: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học". Với quan điểm chỉ đạo chuyển đổi như vậy, vai trò của nhà quản lý giáo dục cần chuyển đổi sang là người dẫn dắt các nguồn tri thức.

Ở hệ thống học tập suốt đời, dưới sự chỉ dẫn của người thầy, trong bể tri thức vô cùng đa dạng và phong phú, người học sẽ biết cần tập trung vào những kiến thức chung nhất, những kiến thức liên quan đến cuộc sống và công việc của chính mình đồng thời đi sâu và phát triển hơn nữa về chuyên môn, nghiệp vụ.

Thứ hai, trong hệ thống học tập suốt đời, người học là bất kì ai, trong nhà trường và ở ngoài nhà trường.

Đây là điểm khác biệt so với hệ thống giáo dục truyền thống khi đối tượng người học ở đây chỉ là học sinh, sinh viên trong nhà trường. Rõ ràng, mô hình hệ thống học tập suốt đời không đơn thuần nói đến một hoạt động cụ thể của một cá nhân mà hàm ý về một triết lý trong việc học, đó là: Học tập là quá trình liên tục, xuyên suốt mọi giai đoạn, mọi lứa tuổi trong đời mỗi con người nhằm phục vụ cho nhu cầu của mọi cá nhân, gia đình, đồng thời đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội. Với triết lý đó, mô hình hệ thống học tập suốt đời có phạm vi bao phủ rộng. Nó vừa bao gồm giáo dục chính quy (với đối tượng người học trong nhà trường) và bao gồm cả giáo dục không chính quy (bao gồm tất cả các đối tượng ngoài nhà trường, từ xóa mù chữ, sau xóa mù chữ, bổ túc văn hóa cho đến cao đẳng, đại học tại chức và các chương trình giáo dục không cấp lớp, giáo dục chuyên đề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người dân trong cộng đồng như giáo dục dân số, đời sống gia đình, sức khỏe, dinh dưỡng, kĩ năng sống.

Thứ ba, nếu như trong hệ thống giáo dục truyền thống, người học thu nhận tri thức từ nhà giáo thì trong hệ thống học suốt đời, người học học thông qua thực hành.

Có thể thấy rằng, đặc trưng này xuất phát từ nhu cầu thực sự của người học là gì? Trong mô hình hệ thống học tập suốt đời, người học không phải vì mục đích tự thân, không phải chỉ để biết, chỉ để có bằng cấp, chứng chỉ mà chủ yếu học để có kiến thức, có năng lực thực sự, để đáp ứng nhu cầu “cần gì học nấy”, học để làm việc, kiếm sống, để có thể tồn tại và thích nghi trong một xã hội luôn thay đổi; học để nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng.

Từ việc học thông qua thực hành, mô hình hệ thống học suốt đời cũng xác định không gian, địa điểm của việc học vô cùng đa dạng. Đó có thể là trường/lớp, tại nơi làm việc, tại gia đình, tại thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, qua tham quan, xem triển lãm...Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự hỗ trợ của công nghệ hiện nay, mọi người có thể học tập gần như mọi nơi, mọi lúc, trong mọi điều kiện hoàn cảnh.

Thứ tư, trong mô hình hệ thống học tập suốt đời, việc đánh giá được sử dụng để chỉ ra cách học thích hợp cho người học và định hướng cho người học con đường tiếp tục trong học tập.

Đối với mô hình hệ thống học truyền thống, các bài kiểm tra, đánh giá được thực hiện để bảo đảm rằng người học đã hoàn tất các yêu cầu học tập và là cơ sở để được học lên. Xét về cơ cấu hệ thống của học tập suốt đời gồm ba phân hệ về nguyên tắc được coi trọng như nhau và liên thông với nhau. Đó là giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục phi chính quy. Cả ba phân hệ này phải liên thông để người học có thể dễ dàng di chuyển từ phân hệ này sang phân hệ khác. Để tạo sự liên thông này, trong hệ thống học tập suốt đời đã xây dựng được cơ chế đánh giá để kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng mà người lao động có được trong giáo dục không chính quy và phi chính quy được công nhận về giá trị chuyển đổi, nhằm tạo cầu nối trong toàn hệ thống giáo dục.

Thứ năm, các đặc trưng khác có thể kể đến của mô hình học tập suốt đời như: người học học theo nhóm và học lẫn nhau; người học học theo các chương trình cá biệt hóa do nhà giáo dục đề xuất; nhà giáo dục là người học suốt đời và người nào cũng có cơ hội học tập suốt đời của mình.

Các đặc trưng này cho thấy sự khác biệt hoàn toàn với mô hình học tập truyền thống đó là: người học học một mình; nhà giáo dục được đào tạo ban đầu, sau đó là đào tạo tại chức;...

Như vậy, trước yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế cùng những đỏi hỏi mà Đảng, Nhà nước đặt ra đối với mỗi công dân trong quá trình học tập, việc xác định rõ những đặc trưng của mô hình hệ thống học tập suốt đời vừa có ý nghĩa đối với nhà quản lý, vừa có ý nghĩa đối với công dân trong quá trình tự học tập để hoàn thiện bản thân, đáp ứng được những yêu cầu  trong tình hình mới. Để đáp ứng yêu cầu học suốt đời cho mọi người, đòi hỏi cần phá vỡ các quan niệm truyền thống từ người dạy, người học, cách dạy, cách học, cách đánh giá. Điều này đòi hỏi việc đổi mới toàn diện từ nhận thức đến hành động của mỗi người dân và nhà quản lý giáo dục như những yêu cầu trong bài viết Học tập suốt đời mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh thời gian vừa qua./.